Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS - Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS cung cấp dịch vụ uỷ thác bán hàng Quốc Tế, có cam kết doanh số cho khách hàng. Liên hệ 0982.515.526

25/08/2026

IMEX NEWS đón tiếp và làm việc cùng Công ty Cổ phần Hữu Nghị Xuân Cương tại Trung tâm Trưng bày và Giao dịch Hàng hóa Việt – Trung tại Nam Ninh

Trong khuôn khổ hoạt động tăng cường kết nối thương mại Việt Nam – Trung Quốc, IMEX NEWS đã đón tiếp Công ty Cổ phần Hữu Nghị Xuân Cương đến thăm và làm việc tại Trung tâm Trưng bày và Giao dịch Hàng hóa Việt – Trung của IMEX NEWS tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Chuyến thăm là dịp để hai bên trao đổi về định hướng hợp tác trong lĩnh vực thương mại, logistics, kết nối cửa khẩu và phân phối hàng hóa, đặc biệt là việc thúc đẩy dòng hàng hóa từ Trung Quốc vào thị trường Việt Nam. Tăng cường hợp tác đưa hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam Trong thời gian qua, nhu cầu đưa các sản phẩm, hàng hóa Trung Quốc vào thị trường Việt Nam thông qua các kênh thương mại chính ngạch ngày càng được quan tâm. Đây cũng là một trong những hướng hợp tác mà IMEX NEWS và Công ty Cổ phần Hữu Nghị Xuân Cương đang tập trung nghiên cứu và triển khai. Tại buổi làm việc, hai bên trao đổi về khả năng phối hợp trong việc kết nối các nhà sản xuất, thương hiệu và doanh nghiệp Trung Quốc với hệ thống phân phối, đối tác thương mại và thị trường Việt Nam. Hai bên hợp tác triên khai vận hành Trung tâm Giao dịch hàng hóa Trung Quốc - Việt Nam tại khu vực cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị ( Ga hành khách Xuân Cương), Lạng Sơn, Việt Nam. Một nội dung quan trọng trong định hướng hợp tác là phát huy vai trò của Trung tâm Giao dịch Hàng hóa Trung Quốc – Việt Nam tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị, Ga hành khách Xuân Cương, Lạng Sơn, Việt Nam, do IMEX NEWS và Xuân Cương phối hợp vận hành. Trung tâm được định hướng trở thành điểm kết nối giao dịch hàng hóa giữa doanh nghiệp Trung Quốc và thị trường Việt Nam, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có nhu cầu đưa sản phẩm vào Việt Nam thông qua tuyến cửa khẩu Hữu Nghị. Việc đặt Trung tâm tại khu vực cửa khẩu có ý nghĩa quan trọng trong việc kết nối trực tiếp giữa nguồn hàng tại Trung Quốc và thị trường tiêu thụ tại Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ liên quan đến giao thương, logistics và lưu thông hàng hóa. Thông qua mô hình này, IMEX NEWS và Xuân Cương hướng tới hình thành một đầu mối giao dịch và kết nối thương mại tại khu vực biên giới, hỗ trợ doanh nghiệp Trung Quốc tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại Việt Nam và từng bước kết nối với các đối tác, nhà nhập khẩu, nhà phân phối trong nước. Trong đó, IMEX NEWS đóng vai trò kết nối và xúc tiến thương mại tại thị trường Trung Quốc; đồng thời hỗ trợ giới thiệu, lựa chọn và kết nối các doanh nghiệp, sản phẩm có tiềm năng với đối tác tại Việt Nam. Với lợi thế về hạ tầng cửa khẩu, logistics và dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu, Xuân Cương được kỳ vọng sẽ là một trong những đối tác quan trọng trong việc hỗ trợ dòng hàng hóa từ Trung Quốc về Việt Nam theo hướng minh bạch, thuận lợi và hiệu quả. Trung tâm Trưng bày và Giao dịch Hàng hóa Việt – Trung – điểm kết nối thương mại hai chiều Trong chương trình, IMEX NEWS giới thiệu mô hình Trung tâm Trưng bày và Giao dịch Hàng hóa Việt – Trung tại Nam Ninh và Trung tâm Giao dịch hàng hóa Trung Quốc - Việt Nam tại khu vực cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị, được xây dựng với định hướng trở thành địa điểm kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp, nhà sản xuất, nhà phân phối và đối tác thương mại của hai thị trường. Không chỉ phục vụ mục tiêu giới thiệu hàng hóa Việt Nam tại Trung Quốc, Trung tâm còn hướng tới việc tuyển chọn và giới thiệu các sản phẩm, thương hiệu và doanh nghiệp Trung Quốc có nhu cầu phát triển thị trường tại Việt Nam. Thông qua hệ thống trưng bày, kết nối B2B và các hoạt động xúc tiến thương mại, mô hình này có thể tạo thành cầu nối cho cả hai chiều: Trung Quốc→ Nam Ninh→ Hữu Nghị, Lạng Sơn → Việt Nam:Kết nối nhà sản xuất, thương hiệu Trung Quốc với doanh nghiệp nhập khẩu, nhà phân phối và hệ thống bán hàng tại Việt Nam. Việt Nam→ Trung tâm tại Nam Ninh→ Trung Quốc:Hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm đối tác và từng bước phát triển thị trường tại Trung Quốc. Qua đó, IMEX NEWS hướng tới xây dựng một hệ sinh thái kết nối thương mại Việt Nam – Trung Quốc, trong đó hoạt động xúc tiến thương mại được gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và khả năng triển khai giao dịch. Kết nối thương mại gắn với logistics và thị trường Một trong những nội dung được hai bên quan tâm là việc kết hợp giữa xúc tiến thương mại – kết nối nguồn hàng – logistics – phân phối, nhằm tạo ra chuỗi hỗ trợ tương đối hoàn chỉnh cho doanh nghiệp. Đối với hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam, việc xác định đúng nguồn hàng, đối tác, phương thức nhập khẩu, logistics và kênh phân phối có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí và nâng cao hiệu quả thương mại. Sự phối hợp giữa IMEX NEWS và Xuân Cương được kỳ vọng sẽ tạo thêm một kênh kết nối để doanh nghiệp Trung Quốc có thể tiếp cận thị trường Việt Nam một cách bài bản, đồng thời giúp doanh nghiệp Việt Nam thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm và tiếp cận nguồn hàng phù hợp từ Trung Quốc. Mở rộng cơ hội hợp tác Việt Nam – Trung Quốc Chuyến thăm và làm việc tại Nam Ninh đánh dấu thêm một bước trong quá trình tăng cường hợp tác giữa IMEX NEWS và Công ty Cổ phần Hữu Nghị Xuân Cương. Hai bên định hướng tiếp tục nghiên cứu và triển khai các chương trình hợp tác cụ thể trong thời gian tới, tập trung vào kết nối hàng hóa Trung Quốc với thị trường Việt Nam, hỗ trợ giao thương qua cửa khẩu, logistics, phân phối và xúc tiến thương mại hai chiều. IMEX NEWS kỳ vọng sự kết hợp giữa năng lực kết nối thương mại tại Trung Quốc và hệ thống cửa khẩu, logistics tại Việt Nam sẽ tạo thêm những cơ hội thiết thực cho doanh nghiệp hai nước, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa và mở rộng quy mô thương mại Việt Nam – Trung Quốc.
Xem thêm

Tin tức

Xuất khẩu dệt may 8 tháng đạt 26,897 tỷ USD

8 tháng năm 2026, dệt, may vẫn nằm trong top mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD, đạt 26,897 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ.   Theo số liệu Cục Thống kê, Bộ Tài chính vừa công bố, 8 tháng năm 2026, xuất khẩu hàng dệt may đạt 26,897 tỷ USD, xếp thứ 4 trong nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, gồm: Điện tử, máy tính và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; điện thoại các loại và linh kiện. Doanh nghiệp dệt may tích cực tìm kiếm đơn hàng cho những tháng cuối năm Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt, may chỉ tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này tiếp tục phản ánh những khó khăn doanh nghiệp dệt may đang đối mặt. Một trong những nỗi lo lớn của doanh nghiệp trong những tháng qua là chính sách thuế quan mới từ Hoa Kỳ. Mức thuế 12,5% tạo thêm áp lực cạnh tranh đối với dệt may Việt Nam so với các quốc gia xuất khẩu hàng dệt may khác. Trước sức ép này, ngành đang triển khai song song hai hướng: Một là kiến nghị Chính phủ sớm đàm phán với phía Hoa Kỳ; hai là chủ động mở rộng địa bàn xuất khẩu thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại. Bên cạnh vấn đề thuế, doanh nghiệp dệt may trong nước tiếp tục chịu áp lực về giá. Các mặt hàng bảo hộ lao động sản xuất theo đơn hàng FOB đang cạnh tranh tương đối gay gắt. Trong khi đó, các dòng hàng thời trang, thể thao có xu hướng giảm giá, thời gian giao hàng ngắn. Doanh nghiệp cũng đối mặt với tình trạng nguyên phụ liệu và vải giao chậm. Điều này kéo dài thời gian sản xuất, ảnh hưởng đến việc đồng bộ nguyên phụ liệu và tiến độ thực hiện đơn hàng. Giá một số mặt hàng nguyên phụ liệu, vật tư, phụ tùng sản xuất và chi phí vận chuyển… cũng có xu hướng tiếp tục tăng. Đây là những yếu tố tạo thêm áp lực chi phí trong sản xuất. Về đơn hàng những tháng cuối năm, một số doanh nghiệp đã có đơn hàng đến hết tháng 9, tháng 10. Thậm chí, đơn hàng dệt kim của một số doanh nghiệp đã đủ sản xuất đến hết năm 2026. Nhưng nhìn chung, tiến độ chốt đơn hàng may mặc cho quý IV/2026 của nhiều doanh nghiệp đang chậm hơn. Để mở rộng thị trường, doanh nghiệp đã tham gia nhiều hội chợ, triển lãm và hoạt động khảo sát, xúc tiến thương mại. Trong đó có Hội chợ AllFashion Sourcing Cape Town 2026 kết hợp khảo sát thị trường châu Phi; Hội chợ Source Fashion, London kết hợp khảo sát, xúc tiến thương mại tại thị trường Anh; Intertextile Shanghai Apparel Fabrics và Yarn Expo Autumn 2026 – một sự kiện chuyên ngành thời trang lớn tại Trung Quốc; Hội chợ Magic Show tại Mỹ… Doanh nghiệp đồng thời tiếp tục tham gia các hội chợ, triển lãm chuyên ngành lớn nhằm tìm thêm đối tác, đa dạng thị trường xuất khẩu trong những tháng còn lại của năm. Ngoài ra, doanh nghiệp tiếp tục theo dõi diễn biến chính sách thuế quan và xu hướng dịch chuyển đơn hàng. Công tác làm việc với khách hàng được tăng cường, doanh nghiệp linh hoạt trong chào giá nhưng ưu tiên các đơn hàng có giá trị gia tăng cao. Cùng với đó, doanh nghiệp tiếp tục kiểm soát chặt tiến độ cung ứng nguyên phụ liệu; nâng cao năng suất lao động; tiết kiệm, tối ưu hóa sản xuất và giữ vững ổn định lực lượng lao động. 8 tháng năm 2026, xuất khẩu mặt hàng dệt, may đạt 26,897 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ. Con số tăng trưởng tiếp tục phản ánh rõ bức tranh khó khăn doanh nghiệp dệt may đang gặp phải.
Xem thêm

Định hình không gian thể chế mở cho Khu thương mại tự do Đà Nẵng

Khu thương mại tự do Đà Nẵng cần bứt phá khỏi lối mòn ưu đãi thuế cũ để kiến tạo một không gian thể chế số, xanh và tích hợp, kết nối mạnh mẽ chuỗi giá trị toàn cầu.   Chuyển từ tư duy ưu đãi thuế sang thể chế số đa tầng Tại Hội thảo Khu thương mại tự do (FTZ) Đà Nẵng và kết nối đầu tư 2026 do Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng tổ chức chiều 13/6 tại TP. Đà Nẵng, ThS. KTS Nguyễn Thu Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Kiến trúc sư Việt Nam cho rằng, cần phải xây dựng FTZ Đà Nẵng như là một không gian kinh tế mở thế hệ mới với cấu trúc đa tầng và đa phương thức. Các chuyên gia, diễn giả thảo luận các xu hướng phát triển FTZ thế hệ mới trên thế giới và cơ hội của Đà Nẵng trong việc hình thành một không gian kinh tế mở, có khả năng kết nối sâu với chuỗi cung ứng toàn cầu Không gian thể chế và chính sách bao gồm tầm nhìn phát triển, tính thử nghiệm của các chính sách, việc áp dụng các cơ chế mới, xây dựng chiến lược thu hút đầu tư thông minh... và đặc biệt là tạo được sự đồng thuận của các nhà đầu tư. “Quan trọng hơn, chúng ta cần nhanh chóng ứng dụng nền kinh tế số để thúc đẩy các động lực phát triển mới, thay vì chỉ dựa vào các thủ tục hành chính hoặc những ưu đãi truyền thống”, ThS. KTS Nguyễn Thu Phong nhận định. Đồng quan điểm, theo TS. Hồ Thị Thu Hòa, Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam, cần thay đổi tư duy định vị FTZ từ góc độ ưu đãi thuế sang một không gian thể chế đặc thù, nơi triển khai các cơ chế thử nghiệm đột phá. TS. Hồ Thị Thu Hòa cũng khẳng định các công nghệ số sẽ “nối liền” và xóa đi rời rạc về địa lý của 7 phân khu chức năng trong FTZ Đà Nẵng. “Những lo ngại về việc bảy phân khu tách biệt về mặt vật lý có thể được giải quyết thông qua môi trường số, hải quan số và dòng dữ liệu số. Đặc biệt, với sự hỗ trợ của các công nghệ mới như AI, IoT, Big Data... chúng ta hoàn toàn có thể bảo đảm dòng thông tin và dữ liệu được liên thông”, TS. Hồ Thị Thu Hòa nói. Từ góc nhìn quốc tế, theo ông Sun Lin, đại diện 58 Group (Trung Quốc) cũng đúc kết bài học cho thấy lộ trình cốt lõi của các FTZ thành công là chuyển từ lợi thế chính sách sang lợi thế thể chế và đổi mới sáng tạo. Ông khuyến nghị Đà Nẵng cần xây dựng cơ chế một cửa tích hợp tất cả thủ tục trên cùng một nền tảng số và đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào vận hành. TP. Đà Nẵng đã tìm được nhà đầu tư hạ tầng trong Khu thương mại tự do Đà Nẵng ở các vị trí số 2, số 3, số 4, số 5. Trong ảnh: Trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư các dự án hạ tầng FTZ Đà Nẵng ở các vị trí số 2, số 3 và số 4 ngày 13/6 Kiến tạo hệ sinh thái xanh gắn kết chuỗi giá trị toàn cầu Theo các chuyên gia, một không gian thể chế mở chỉ thực sự phát huy tối đa giá trị khi được đặt trong một hệ sinh thái tích hợp và hướng tới xu thế phát triển bền vững. TS. Hồ Thị Thu Hòa chỉ ra rằng, động lực lớn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược hiện nay là xu hướng tăng trưởng xanh. FTZ Đà Nẵng cần phát đi thông điệp mạnh mẽ về định hướng xanh và bền vững, tập trung phát triển các dịch vụ logistics giá trị gia tăng cao. Đồng thời, bà Hòa đề xuất mô hình "nhà đầu tư mỏ neo" (anchor investor), những tập đoàn lớn có khả năng dẫn dắt hệ sinh thái, kết nối chuỗi cung ứng và thu hút các doanh nghiệp vệ tinh quốc tế. Bổ sung cho luận điểm này, KTS Nguyễn Thu Phong đề xuất ý niệm tiếp cận dựa trên các dòng chảy chủ đạo gồm dòng chảy giá trị, dòng chảy tri thức và dòng chảy số. FTZ Đà Nẵng phải là nơi hội tụ để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao nhất trên quỹ đất hạn hẹp, thu hút con người tinh hoa và gắn liền với vành đai quản lý xanh (Green Economy). Sự chồng lớp của các chức năng không gian từ cảng biển, công nghệ tương lai đến thương mại quốc tế, sẽ biến FTZ Đà Nẵng từ một khu sản xuất khô cứng thành một hệ sinh thái kinh tế mở năng động trong liên kết vùng. Còn chuyên gia đến từ Trung Quốc, ông Sun Lin khuyến nghị Đà Nẵng nên thúc đẩy mạnh mẽ hệ thống vận tải đa phương thức để kết nối đường bộ, đường sắt, hàng không, đường biển và xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp đầu chuỗi nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng khu vực châu Á - Thái Bình Dương. FTZ Đà Nẵng vị trí số 1 đang được nghiên cứu triển khai đồng bộ với Cảng Liên Chiểu, cảng biển nước sâu chiến lược của quốc gia. Trong ảnh: Khởi công dự án Bến cảng Container Liên Chiểu hồi cuối tháng 4/2026 Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng cho biết, Khu thương mại tự do Đà Nẵng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bức tranh phát triển chung của toàn thành phố. Đây không chỉ là một khu vực phát triển kinh tế, mà là không gian thể chế mới, động lực tăng trưởng mới và là cửa ngõ kết nối Đà Nẵng với các chuỗi sản xuất, thương mại và logistics toàn cầu. Theo lãnh đạo TP. Đà Nẵng, sau một năm kể từ ngày thành lập, Khu thương mại tự do Đà Nẵng đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Những kết quả này cho thấy chủ trương xây dựng Khu thương mại tự do Đà Nẵng là đúng hướng, khả thi và đang từng bước đi vào thực tiễn. “Thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện hạ tầng chiến lược, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, vận hành; đồng thời nghiên cứu mở rộng không gian Khu thương mại tự do về phía Nam để phát huy tối đa lợi thế của thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất”, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng thông tin. Cam kết đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, lãnh đạo TP. Đà Nẵng mong muốn tiếp tục đón nhận những nhà đầu tư có năng lực, có tầm nhìn dài hạn, cùng chung khát vọng xây dựng Khu thương mại tự do Đà Nẵng trở thành hình mẫu phát triển mới của Việt Nam. Khu thương mại tự do Đà Nẵng cần bứt phá khỏi tư duy ưu đãi thuế cũ để kiến tạo một không gian thể chế mở thế hệ mới. Bằng cách ứng dụng công nghệ số kết nối đa tầng giữa các phân khu và xây dựng hệ sinh thái xanh tích hợp, thành phố sẽ thu hút hiệu quả các nhà đầu tư mỏ neo, tối ưu hóa chuỗi cung ứng toàn cầu và tạo động lực tăng trưởng đột phá.
Xem thêm

Giá cà phê hôm nay 3/9/2026: Giảm nhẹ 600 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay 3/9: Giá cà phê trong nước đồng loạt giảm nhẹ 600 đồng/kg, xuống mốc 93.700 - 94.200 đồng/kg.   Giá cà phê thế giới hôm nay 3/9/2026: Nối tiếp đà giảm Cập nhật sáng 3/9, thị trường cà phê thế giới tiếp tục ghi nhận phiên giảm đồng loạt trên các sàn giao dịch quốc tế.  Kết thúc phiên giao dịch trên sàn London, giá cà phê Robusta ghi nhận phiên giảm nhẹ đồng loạt. Cụ thể, hợp đồng giao kỳ hạn tháng 9/2026 trên sàn London tiếp tục giảm 1,6% (55 USD/tấn) so với ngày hôm trước, xuống còn 3.376 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 1,59% (55 USD/tấn), đạt 3.406 USD/tấn. Trong khi đó, trên sàn giao dịch New York, giá cà phê Arabica cũng chứng kiến phiên sụt giảm sâu. Trong đó, hợp đồng giao kỳ hạn tháng 9/2026 ghi nhận đà "lao dốc" tới 4,05% (13,85 US cent/pound), xuống chỉ còn 328,4 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 3,67% (11,35 US cent/pound), đạt 298,1 US cent/pound. Theo Reuters, giá cà phê tiếp tục giảm trong phiên thứ 4 trong tuần, kéo dài đà giảm trong một tuần qua, trong đó Arabica giảm xuống mức thấp nhất trong 5 tuần, còn Robusta xuống mức thấp nhất trong 2,75 tháng qua. Trong khi đó, các nhà giao dịch cho biết lượng cà phê xuất khẩu từ Brazil đã tăng lên khi vụ thu hoạch đang bước vào giai đoạn cuối, qua đó góp phần giảm bớt tình trạng khan hiếm nguồn cung trong ngắn hạn. Thu hoạch cà phê tại Gia Lai Giá cà phê trong nước: Giảm nhẹ 600 đồng Tại thị trường trong nước, giá cà phê hôm nay (3/9) ghi nhận phiên điều chỉnh giảm nhẹ đồng loạt 600 đồng/kg. Hiện giá cà phê Tây Nguyên giao dịch xuống mốc 93.700 - 94.200 đồng/kg. Cụ thể, giá cà phê tại Đắk Lắk hôm nay giao dịch ở mức 94.200 đồng/kg, giảm nhẹ 600 đồng/kg so với phiên giao dịch trước. Tương tự, giá cà phê Gia Lai hôm nay giao dịch ở mức 94.200 đồng/kg, cũng giảm nhẹ 600 đồng/kg so với ngày hôm qua. Trong khi đó, giá cà phê hôm nay tại Lâm Đồng giao dịch ở mức 93.700 đồng/kg, giảm nhẹ 600 đồng/kg so với phiên giao dịch trước. Đây là mức giá cà phê thấp nhất trên cả nước hôm nay. Theo số liệu từ Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phêcủa Việt Nam đạt gần 1,7 triệu tấn, trị giá hơn 6 tỷ USD, tăng hơn 10% về lượng, nhưng giảm 11,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025 do giá xuất khẩu giảm. Trong 8 tháng qua, EU và Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực, trong khi một số thị trường khu vực châu Á, đặc biệt là Trung Quốc đang mở ra cực tăng trưởng mới cho xuất khẩu cà phê Việt Nam. Theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, tăng trưởng xuất khẩu cà phê phụ thuộc vào khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững, đặc biệt là EUDR (quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu), cùng với đẩy mạnh chế biến sâu, nâng cao chất lượng. Hiện khoảng 30% diện tích cà phê của Việt Nam đã có các chứng chỉ sản xuất bền vững, nền tảng quan trọng để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu.
Xem thêm

Thủ tục hải quan sẽ chuyển hoàn toàn lên môi trường điện tử

Điểm nổi bật của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan là hướng tới xóa bỏ các thủ tục, hồ sơ giấy, thay vào đó là thực hiện thủ tục hải quan trên môi trường điện tử.   Bám sát những chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang được Bộ Tài chính soạn thảo và xin ý kiến chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp dự kiến sẽ sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 42 điều và bổ sung 4 điều mới. Để làm rõ những điểm mới của Luật Hải quan sửa đổi, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Minh Thảo - Phó trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) bên lề hội thảo “Lấy ý kiến doanh nghiệp về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan” do VCCI phối hợp cùng Bộ Tài chính tổ chức mới đây. - Thưa bà, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang được Bộ Tài chính xin ý kiến được đặt trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và tạo thuận lợi thương mại. Bà đánh giá như thế nào về định hướng sửa đổi này? Bà Nguyễn Minh Thảo: Có thể thấy, dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này đã thể hiện khá rõ những chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước trong thời gian gần đây, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và tạo thuận lợi hơn cho môi trường kinh doanh. Điểm nổi bật là dự thảo hướng tới xóa bỏ các thủ tục, hồ sơ giấy, thay vào đó là thực hiện thủ tục hải quan hoàn toàn trên môi trường điện tử. Đây là bước đi rất quan trọng, phù hợp với xu hướng quản lý hiện đại, đồng thời giúp doanh nghiệp thực hiện thủ tục thuận lợi hơn, minh bạch hơn và giảm chi phí tuân thủ. Bên cạnh đó, dự thảo cũng đề cập đến mô hình hải quan tập trung. Theo tôi, đây là nội dung đáng chú ý, bởi việc tích hợp, chuyên môn hóa các thủ tục hải quan sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện thủ tục, đồng thời hỗ trợ cơ quan hải quan địa phương nâng cao hiệu quả xử lý công việc. Ngoài ra, Luật Hải quan sửa đổi cũng hướng đến quá trình cải cách thủ tục hành chính đó là tiếp tục nâng cấp Cơ chế một cửa quốc gia, tăng cường liên thông và thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử cũng cho thấy định hướng cải cách rất rõ. Khi hồ sơ giấy không còn là phương thức chủ đạo, hệ thống công nghệ thông tin, năng lực phục vụ và sự ổn định của hệ thống hải quan cần được nâng cấp tương ứng. Đây vừa là áp lực, vừa là động lực để ngành hải quan nâng cấp hệ thống, hiện đại hóa mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực thi. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang được Bộ Tài chính soạn thảo và xin ý kiến chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp. Ảnh minh họa Hài hòa giữa quản lý và thúc đẩy đổi mới - Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này bổ sung nhiều nội dung mới, trong đó có quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua thương mại điện tử và mô hình quản lý tuân thủ. Theo bà, đâu là những vấn đề cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện? Bà Nguyễn Minh Thảo: Trong phạm vi sửa đổi lần này, dự thảo Luật Hải quan đề cập khá nhiều nội dung mới, trong đó có 4 điều được bổ sung thêm, vì vậy cần tiếp tục được nghiên cứu, rà soát kỹ để bảo đảm tính khả thi khi đi vào cuộc sống. Một trong những nội dung cần quan tâm là quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu được mua bán trên nền tảng thương mại điện tử. Đây là yêu cầu cấp thiết cần phải có sự quản lý và đảm bảo tính công bằng, minh bạch, cạnh tranh trong hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, khi xây dựng quy định, cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước để có cách tiếp cận phù hợp. Nhằm mục tiêu là quản lý tốt hơn, nhưng không làm hạn chế những xu hướng phát triển mới, không cản trở các mô hình kinh doanh, mua bán qua sàn thương mại điện tử. Nói cách khác, chính sách cần vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo và các mô hình phát triển phù hợp với xu thế của thế giới. Bên cạnh đó, mô hình quản lý tuân thủ cũng là nội dung cần được hoàn thiện thêm. Về nguyên tắc, doanh nghiệp đều phải tuân thủ pháp luật, nhưng để mô hình này phát huy hiệu quả, cần có tiêu chí rõ ràng, hướng dẫn cụ thể và cơ chế khuyến khích phù hợp. Khi doanh nghiệp thấy rõ lợi ích của việc tuân thủ tốt, họ sẽ có thêm động lực để thực hiện thủ tục chuyên nghiệp hơn, minh bạch hơn. Đây cũng có thể là cơ sở để mở rộng các nhóm doanh nghiệp được hưởng cơ chế thuận lợi, tương tự như doanh nghiệp ưu tiên. - Từ góc nhìn chính sách và cộng đồng doanh nghiệp, bà kỳ vọng Luật Hải quan sửa đổi khi được ban hành sẽ tạo chuyển biến như thế nào trong thực tiễn? Bà Nguyễn Minh Thảo: Với bất kỳ văn bản pháp luật nào, cộng đồng doanh nghiệp và người dân đều mong muốn khi ban hành sẽ đi vào cuộc sống một cách hiệu quả. Luật không chỉ phải đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, mà còn cần giảm chi phí tuân thủ, giảm gánh nặng thủ tục cho người dân và doanh nghiệp. Đối với dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này, kỳ vọng lớn nhất là các thủ tục sẽ được đơn giản hóa hơn, thực hiện nhiều hơn trên môi trường điện tử, từ đó giảm thời gian, chi phí và những vướng mắc phát sinh trong quá trình làm thủ tục hải quan. Khi thủ tục hành chính được cải cách, điều kiện thực hiện được đơn giản hóa, hệ thống hải quan vận hành ổn định, minh bạch hơn, doanh nghiệp sẽ có thêm niềm tin và động lực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động xuất nhập khẩu, một lĩnh vực có vai trò rất lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế. Tôi cho rằng, nếu được hoàn thiện tốt và triển khai hiệu quả, Luật Hải quan sửa đổi sẽ không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập ngày càng sâu rộng. - Xin cảm ơn bà! Ông Nguyễn Thành Hưng - Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính): Dự thảo Luật Hải quan lần này dự kiến sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 42 điều và bổ sung 4 điều mới. Đây là bước đi pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa và thể chế hóa các nghị quyết lớn của Bộ Chính trị, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây d
Xem thêm

Nâng tầm logistics cho hành trình xuất nhập khẩu 1.000 tỷ USD

Xuất nhập khẩu tiến tới mốc 1.000 tỷ USD đặt ra yêu cầu phát triển logistics hiện đại, hiệu quả, qua đó nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.   Khi quy mô xuất nhập khẩu Việt Nam tiến tới mốc 1.000 tỷ USD, phát triển logistics tương xứng sẽ góp phần giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh và tạo thêm động lực tăng trưởng cho nền kinh tế. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho rằng, sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với logistics. Việc triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 cần gắn chặt với thực tiễn của từng địa phương, doanh nghiệp, qua đó từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics Việt Nam. Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương Logistcs tạo lực đẩy cho xuất nhập khẩu - Xuất nhập khẩu Việt Nam đang tiến dần tới mốc 1.000 tỷ USD. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của logistics và những đóng góp của ngành logistics đối với kết quả này? Ông Trần Thanh Hải: Có thể nói, cùng với sự phát triển của sản xuất, mở rộng thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, logistics có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua. Quy mô xuất nhập khẩu ngày càng lớn đồng nghĩa với khối lượng hàng hóa lưu chuyển ngày càng nhiều. Điều này đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hoạt động vận tải, kho bãi, giao nhận, thông quan cũng như tổ chức và quản trị chuỗi cung ứng. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics tác động trực tiếp đến thời gian giao hàng, khả năng thực hiện hợp đồng và chi phí của hàng hóa. Nếu tổ chức logistics tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí lưu kho, nâng cao khả năng đáp ứng đơn hàng và qua đó tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Vai trò của logistics càng thể hiện rõ trong bối cảnh thương mại quốc tế có nhiều biến động. Những vấn đề về địa chính trị, gián đoạn tuyến vận tải, giá nhiên liệu biến động hay thay đổi trong chính sách thương mại của các thị trường đều có thể tác động tới chuỗi cung ứng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động hơn trong lựa chọn phương thức vận tải, tuyến vận chuyển, thị trường cũng như nguồn cung nguyên liệu. Với quy mô xuất nhập khẩu đang tiếp tục được mở rộng và tiến tới mốc 1.000 tỷ USD, nhu cầu đối với dịch vụ logistics sẽ còn rất lớn. Do đó, năng lực logistics cũng cần được nâng lên tương xứng để vừa đáp ứng yêu cầu lưu chuyển hàng hóa, vừa hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng tốt hơn các cơ hội thị trường và các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia. - Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2229/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Theo ông, Chiến lược sẽ đóng góp như thế nào vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế? Ông Trần Thanh Hải: Quyết định số 2229/QĐ-TTg đã xác định phát triển dịch vụ logistics thành một ngành kinh tế quan trọng, có giá trị gia tăng cao, đồng thời coi logistics là yếu tố động lực, dịch vụ thiết yếu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đây là điểm rất quan trọng bởi Chiến lược tạo ra một định hướng tổng thể và dài hạn cho phát triển logistics Việt Nam. Trong đó, các vấn đề từ thể chế, kết cấu hạ tầng, phát triển thị trường, nâng cao năng lực doanh nghiệp đến chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực đều được đặt trong một tổng thể chung. Chiến lược đặt mục tiêu trong giai đoạn 2025 - 2035, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành dịch vụ logistics đạt 12 - 15%/năm; tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong GDP đạt 5 - 7%. Bên cạnh đó là các mục tiêu về giảm chi phí logistics, cải thiện Chỉ số năng lực logistics, phát triển các trung tâm dịch vụ logistics hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong những năm tới, quy mô sản xuất, thương mại và lưu thông hàng hóa sẽ tiếp tục được mở rộng. Điều này đồng nghĩa với nhu cầu về dịch vụ logistics cũng tăng lên và đòi hỏi ngành logistics phải phát triển tương xứng cả về hạ tầng, chất lượng dịch vụ và năng lực của doanh nghiệp. Nếu các nhiệm vụ của Chiến lược được triển khai hiệu quả, logistics sẽ góp phần cải thiện khả năng kết nối giữa sản xuất với thị trường, giảm thời gian và chi phí lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế. Từ chiến lược đến năng lực logistics thực chất Phát triển logistics hiện đại, hiệu quả sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam khi quy mô xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng - Bộ Công Thương đã và đang triển khai những giải pháp gì để đưa Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 vào cuộc sống? Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả các chương trình làm việc với địa phương trong triển khai Chiến lược thời gian qua? Ông Trần Thanh Hải: Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược, Bộ Công Thương đã triển khai các công việc theo từng bước để đưa những mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược vào thực tế. Trước hết, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị triển khai Chiến lược với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo. Tiếp đó, Bộ làm việc với các Bộ, ngành, hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp để trao đổi về tình hình triển khai, nắm bắt những vấn đề đặt ra trong thực tế và tiếp nhận các kiến nghị. Ngày 13/3/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 458/QĐ-BCT về Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Qua đó, các nhiệm vụ của Bộ Công Thương trong triển khai Chiến lược được cụ thể hóa để tổ chức thực hiện. Một bước tiếp theo rất quan trọng là làm việc trực tiếp với các địa phương. Mục đích của các chương trình này là trao đổi thông tin, đánh giá thực trạng phát triển logistics, nhận diện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Chiến lược và cùng địa phương đề xuất các giải pháp phù hợp. Thực tế cho thấy mỗi địa phương có những điều kiện khác nhau về vị trí địa lý, cơ cấu kinh tế, nguồn hàng và hệ thống hạ tầng. Có địa phương có lợi thế về cảng biển, có địa phương có cửa khẩu, có địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp hoặc vùng sản xuất hàng hóa lớn. Có địa phương lại rất khó khăn vì không có những lợi thế trên. Vì vậy, triển khai Chiến lược phải gắn với điều kiện và nhu cầu thực tế của từng địa phương, đồng thời bảo đảm sự liên kết với các địa phương khác trong vùng. Qua các chương trình làm việc, chúng tôi cũng ghi nhận được nhiều vấn đề thực tế liên quan đến kết nối hạ tầng, quy hoạch, phát triển trung tâm logistics, nguồn hàng, ứng dụng công nghệ cũng như cơ chế phối hợp. Đây là những thông tin rất quan trọng để cơ quan quản lý cùng địa phương xác định những nhiệm vụ cần ưu tiên trong quá trình triển khai Chiến lược. Qua đây, chúng tôi nhận thấy yếu tố tiên quyết để phát triển dịch vụ logistics là sự quan tâm của lãnh đạo địa phương. Những địa phương có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo cùng với cách làm phù hợp sẽ nhanh chóng tận dụng được lợi thế, hoặc tìm ra những giải pháp để vượt qua khó khăn, đưa logistics phát triển. Điều quan trọng là thông qua quá trình này, Chiến lược từng bước được cụ thể hóa thành những nội dung gắn với thực tiễn phát triển kinh tế, công nghiệp, thương mại và xuất nhập khẩu của từng địa phương. - Bên cạnh những kết quả đạt được, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất đang cản trở sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của logistics Việt Nam? Theo ông, đâu là vấn đề cần ưu tiên giải quyết trong giai đoạn tới? Ông Trần Thanh Hải: Trong những năm qua, logistics Việt Nam đã có bước phát triển tích cực, cả về số lượng doanh nghiệp, loại hình dịch vụ cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn tới, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Trước hết là tính đồng bộ và khả năng kết nối. Logistics là tổ hợp của rất nhiều hoạt động, nhiều loại hình dịch vụ, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều phương thức, nhiều địa phương và nhiều chủ thể khác nhau. Vì vậy, nếu thiếu sự kết nối thì rất khó tối ưu được toàn bộ chuỗi. Cũng chính vì thế, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này hiện nay còn bất cập khi không có lực lượng chuyên trách với đủ thẩm quyền điều phối.  Bên cạnh hạ tầng giao thông, chúng ta còn phải quan tâm đến hạ tầng kho bãi, trung tâm logistics, cảng cạn và khả năng kết nối giữa các khu vực sản xuất, khu công nghiệp với cửa khẩu, cảng biển và thị trường tiêu thụ. Chúng ta có một số cảng biển, sân bay lớn, nhưng đội tàu vận tải container và đội tàu bay chuyên chở hàng hóa thì còn đang rất thiếu, thậm chí chưa có. Nên rất cần định hướng, hỗ trợ để doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực này. Một vấn đề khác là năng lực của doanh nghiệp logistics. Trong bối cảnh yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, doanh nghiệp không thể chỉ cung cấp những dịch vụ đơn lẻ mà cần nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ tích hợp, ứng dụng công nghệ và tham gia sâu hơn vào quá trình quản trị chuỗi cung ứng của khách hàng. Việc hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp logistics vươn ra thị trường quốc tế cũng rất quan trọng. Cùng với đó, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực là những nội dung cần được quan tâm trong thời gian tới. Đây cũng là những nhiệm vụ quan trọng đã được đặt ra trong Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam. Theo tôi, một trong những yêu cầu cấp thiết là phải tăng cường liên kết. Đó là liên kết giữa các phương thức vận tải, giữa các địa phương, giữa doanh nghiệp logistics với doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu, đồng thời tăng cường chia sẻ thông tin và dữ liệu trong chuỗi cung ứng. Khi các chủ thể kết nối tốt hơn, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn thì chúng ta mới có điều kiện giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện năng lực cạnh tranh của logistics Việt Nam. - Với quy mô xuất nhập khẩu ngày càng lớn và những định hướng mới từ Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam, ông kỳ vọng diện mạo ngành logistics Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào trong những năm tới? Đâu sẽ là những động lực quan trọng để ngành logistics duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế? Ông Trần Thanh Hải: Trong những năm tới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và hoạt động xuất nhập khẩu, ngành logistics Việt Nam có nhiều điều kiện để tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Trước hết, nhu cầu thị trường sẽ là một động lực rất lớn. Khi sản xuất công nghiệp phát triển, xuất nhập khẩu mở rộng, thương mại điện tử tăng trưởng thì nhu cầu vận chuyển, kho bãi, phân phối và quản trị chuỗi cung ứng cũng tăng theo. Tuy nhiên, điều chúng ta hướng tới không chỉ là tăng về quy mô. Logistics Việt Nam cần từng bước nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của dịch vụ. Doanh nghiệp cần có khả năng cung cấp nhiều dịch vụ tích hợp hơn, vươn lên ở vị trí đầu chuỗi dịch vụ logistics, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu. Cùng với đó là quá trình chuyển đổi số. Việc ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu và số hóa các quy trình sẽ giúp doanh nghiệp quản lý phương tiện, kho hàng, đơn hàng và hoạt động vận chuyển hiệu quả hơn. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng dịch vụ. Chuyển đổi xanh cũng là một xu hướng cần được quan tâm. Các yêu cầu liên quan đến môi trường và phát thải trong chuỗi cung ứng quốc tế ngày càng rõ nét. Doanh nghiệp logistics Việt Nam cần chủ động thích ứng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng và thị trường. Tôi cho rằng, nếu chúng ta triển khai tốt Chiến lược, đồng thời tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, ngành logistics Việt Nam sẽ có điều kiện phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả và có giá trị gia tăng cao hơn. Khi đó, logistics không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu mà còn đóng góp trực tiếp nhiều hơn vào tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. - Trân trọng cảm ơn ông!
Xem thêm

Giá vàng hôm nay (4/9): Đảo chiều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay (4/9) tiếp tục tăng mạnh, lên quanh 4.460 USD/ounce, khi đồng USD và lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ hạ nhiệt.   Giá vàng hôm nay trên thế giới Theo Kitco, giá vàng thế giới ghi nhận lúc 4h30 hôm nay theo giờ Việt Nam giao ngay ở mức 4,460 USD/ounce. Giá vàng hôm nay tăng 2,16% so với hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (26.020 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 140 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 7 triệu đồng/lượng. Diễn biến giá vàng thế giới trong 24h qua. Giá vàng thế giới tiếp tục tăng mạnh, được hỗ trợ bởi đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ hạ nhiệt. Giới đầu tư hiện chờ đợi báo cáo việc làm quan trọng của Mỹ, dữ liệu có thể tác động đến kỳ vọng về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất trong tháng này. Trước đó, giá vàng đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 7/8, trước khi phục hồi hơn 1%. Đà hồi phục diễn ra khi chỉ số USD giảm từ mức đỉnh gần ba tuần, trong khi lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ hạ nhiệt sau khi lên mức cao nhất trong nhiều năm. "Đồng USD suy yếu nhẹ và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm nhẹ đang hỗ trợ giá vàng. Trong bối cảnh Fed hiện chưa đưa ra định hướng rõ ràng về chính sách sắp tới, giá vàng vẫn rất nhạy cảm với những thay đổi trong kỳ vọng của thị trường đối với cuộc họp tháng 9", Giovanni Staunovo, nhà phân tích tại UBS, cho biết. Các chuyên gia thuộc nền tảng giao dịch Tastylive nhận định báo cáo việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp công bố vào ngày 4/9 (giờ địa phương) sẽ là thời điểm quan trọng nhất trong tuần. Họ cho rằng nếu số liệu việc làm không đạt kỳ vọng, kỳ vọng Fed tăng lãi suất trong tháng 9 sẽ sụt giảm. Khi đó, giá vàng có thể bứt phá trở lại vùng 4.500 USD/ounce và hướng tới mốc 4.700 USD/ounce. Một báo cáo của Fed công bố ngày 2/9 cho thấy hoạt động kinh tế và giá cả tại Mỹ chỉ tăng khiêm tốn trong những tuần qua. Thông tin này có thể chưa đủ thuyết phục các nhà hoạch định chính sách khi họ cân nhắc việc nâng lãi suất tại cuộc họp ngày 15-16/9 tới. Giá vàng luôn nhạy cảm với các động thái điều chỉnh lãi suất của Mỹ. Bởi lãi suất hạ sẽ khiến đồng USD yếu đi, song lại gia tăng đáng kể sức hấp dẫn của các tài sản không sinh lời như vàng. Giá vàng trong nước hôm nay Giá vàng miếng SJC tại nhiều doanh nghiệp đồng loạt giảm. Cụ thể: Tại SJC, giá vàng miếng được niêm yết ở mức 144,4 triệu đồng/lượng mua vào - 147,4 triệu đồng/lượng bán ra, giảm 1,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với lần cập nhật trước. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng. PNJ Hà Nội cũng giảm 1,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá vàng miếng về 144,4-147,4 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng. Tại DOJI, giá vàng miếng giảm 1,3 triệu đồng/lượng mỗi chiều, xuống 144,4-147,4 triệu đồng/lượng, chênh lệch 3 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Mạnh Hải giảm 1,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện niêm yết 144,4-147,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, Phú Quý giảm 100.000 đồng/lượng chiều mua vào và 800.000 đồng/lượng chiều bán ra, xuống 144,4-147,4 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu giảm 800.000 đồng/lượng chiều mua vào và 1,3 triệu đồng/lượng chiều bán ra, hiện ở mức 144-147,4 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán là 3,4 triệu đồng/lượng. Đi ngược xu hướng, Mi Hồng tăng 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 145-146,5 triệu đồng/lượng. Vàng miếng Sáng 3/9 Sáng 4/9 Chênh lệch Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Triệu đồng/lượng Triệu đồng/lượng Nghìn đồng/lượng SJC 145,7 148,7 144,4 147,4 -1.300 -1.300 PNJ 145,7 148,7 144,4 147,4 -1.300 -1.300 DOJI 145,7 148,7 144,4 147,4 -1.300 -1.300 Bảo Tín Mạnh Hải 145,7 148,7 144,4 147,4 -1.300 -1.300 Phú Quý 144,7 148,7 144,4 147,4 -300 -1.300 Bảo Tín Minh Châu 145,1 148,7 144,0 147,4 -1.100 -1.300 Mi Hồng 145,2 146,7 145,0 146,5 -200 -200 Bảng giá vàng miếng trong nước cập nhật sáng ngày 4/9 Giá vàng hôm nay ngày 4/9/2026. Ảnh: P.C Thị trường vàng nhẫn sáng 4/9 tiếp tục phân hóa. Bảo Tín Minh Châu niêm yết nhẫn tròn trơn Vàng Rồng Thăng Long 9999 ở mức 145,3-149,3 triệu đồng/lượng, chênh lệch mua - bán 4 triệu đồng/lượng. Tại DOJI, nhẫn tròn Hưng Thịnh Vượng 9999 có giá 145-149 triệu đồng/lượng, chênh lệch 4 triệu đồng/lượng. Phú Quý niêm yết vàng nhẫn ở mức 144,4-147,4 triệu đồng/lượng, trong khi PNJ ở mức 144-147,4 triệu đồng/lượng. Riêng SJC niêm yết vàng nhẫn 9999 ở mức 144,9-146,9 triệu đồng/lượng, với chênh lệch mua - bán 2 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn Sáng 3/9 Sáng 4/9 Chênh lệch Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Triệu đồng/lượng Triệu đồng/lượng Nghìn đồng/lượng SJC 144,9 146,9 144,9 146,9 0 0 DOJI 145,0 149,0 145,0 149,0 0 0 Bảo Tín Minh Châu 145,3 149,3 145,3 149,3 0 0 Bảo Tín Mạnh Hải 144,9 148,7 144,9 148,7 0 0 Phú Quý 144,4 147,4 144,4 147,4 0 0 PNJ 144,0 147,4 144,0 147,4 0 0 Bảng giá vàng nhẫn trong nước cập nhật sáng ngày 4/9
Xem thêm

Thương vụ phát huy vai trò cảnh báo sớm cho doanh nghiệp

Không chỉ cung cấp thông tin, thương vụ còn đóng vai trò như một “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp nhận diện các rủi ro tiềm ẩn trong thương mại quốc tế.   Thương mại tăng trưởng nhưng biến động mạnh Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng biến động khó lường, vai trò của hệ thống thương vụ Việt Nam tại nước ngoài đang chuyển dịch mạnh mẽ, từ “cầu nối xúc tiến thương mại, đầu tư” sang “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro và chủ động thích ứng. Thị trường Philippines là một ví dụ điển hình cho xu hướng này. Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Phú Cường - Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Philippines cho biết, trong hai tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đạt 1,29 tỷ USD, giảm nhẹ 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đạt 880,7 triệu USD, tăng 3,9%, trong khi nhập khẩu từ Philippines giảm mạnh 9,3%, xuống còn 409,6 triệu USD. Nhờ đó, cán cân thương mại tiếp tục nghiêng về phía Việt Nam với mức thặng dư 471,1 triệu USD, tăng 19,1%. Thương vụ Việt Nam tại Philippines kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở gian hàng trưng bày, quảng bá sản phẩm tại các hội chợ, triển lãm tại Philippines. Ảnh: Thành Văn Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là sự biến động đáng chú ý trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu. Các nhóm mặt hàng xuất khẩu ghi nhận xu hướng “phân hóa mạnh” với nhiều ngành tăng trưởng cao nhưng cũng không ít lĩnh vực suy giảm sâu. Dẫn chứng cụ thể, thương vụ cho biết, gạo tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng đến 9,9% sau khi Philippines dỡ bỏ lệnh tạm dừng nhập khẩu từ cuối năm 2025, chiếm tới 35,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này. Sự phục hồi này không chỉ giúp Việt Nam giữ vững thị phần mà còn gia tăng lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ. Ngược lại, xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực sang thị trường Philippines lại sụt giảm đáng kể. Clanhke và xi măng giảm tới 59,2% do tác động của biện pháp tự vệ từ nước này. Điện thoại và linh kiện giảm 5,7%. Các nhóm hàng tiêu dùng như cà phê, giày dép, dệt may lần lượt giảm 23,9%, 9,2% và 32,4%. Tham tán thương mại Lê Phú Cường cho rằng, những con số này cho thấy một thực tế rõ ràng, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường Philippines với hơn 115 triệu dân và thị trường có cơ cấu dân số trẻ và sức tiêu dùng lớn. Ở chiều nhập khẩu, cơ cấu cũng có sự dịch chuyển đáng kể. Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm tỷ trọng lớn nhất (65,8%) nhưng chỉ tăng nhẹ 6,4%. Trong khi đó, các mặt hàng như phế liệu sắt thép và chất dẻo nguyên liệu lại tăng đột biến từ 6 - 7 lần, phản ánh nhu cầu nguyên liệu đầu vào trong nước đang thay đổi nhanh chóng. Theo đánh giá của thương vụ, những biến động trên không đơn thuần là điều chỉnh cung - cầu, mà phản ánh tác động đa chiều từ bối cảnh kinh tế khu vực và toàn cầu. Xung đột tại Trung Đông từ cuối tháng 2/2026 đã đẩy giá dầu lên mức 120 - 130 USD/thùng, khiến chi phí logistics tăng mạnh. Philippines phải duy trì tình trạng khẩn cấp năng lượng, kéo theo chi phí nhập khẩu tăng và trực tiếp làm giảm biên lợi nhuận của hàng hóa Việt Nam. Bên cạnh đó, khả năng Ngân hàng Trung ương Philippines tăng lãi suất để bảo vệ đồng Peso sẽ khiến tiêu dùng nội địa bị thắt chặt. Đây là yếu tố bất lợi đối với các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, đồ gỗ. Đối với mặt hàng gạo, trụ cột xuất khẩu trong ngắn hạn cũng đối mặt thách thức. Philippines dự kiến hạn chế nhập khẩu trong tháng 3 và 4 xuống còn 150 nghìn tấn/tháng, thay vì khoảng 400 nghìn tấn trước đó, do bước vào vụ thu hoạch nội địa. Đáng chú ý, việc Philippines sử dụng công cụ cấp phép Thông quan nhập khẩu kiểm dịch động thực vật - SPSIC (Sanitary and Phytosanitary Import Clearance) như một biện pháp kiểm soát định lượng cho thấy xu hướng điều hành nhập khẩu ngày càng chặt chẽ hơn. Những diễn biến này cho thấy thị trường Philippines đang chuyển từ “dễ đoán” sang “biến động có điều kiện”, nơi tăng trưởng luôn đi kèm với rủi ro chính sách và chi phí. Từ xúc tiến đến “cảnh báo sớm” Trước những diễn biến phức tạp tại thị trường Philippines, ông Lê Phú Cường cho rằng, vai trò của thương vụ không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xử lý các vụ việc pháp lý, làm việc với các cơ quan chức năng sở tại và tìm kiếm giải pháp phù hợp. Việc cảnh báo sớm các nguy cơ điều tra phòng vệ thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh hoạt động sản xuất và xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro. Thực tế, những cảnh báo về việc Philippines siết nhập khẩu gạo theo mùa vụ, áp trần giá gạo lên tới 50 peso/kg, nguy cơ tăng lãi suất hay chi phí logistics leo thang… đã giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro về tồn kho, chậm dòng tiền hay đàm phán bất lợi. Không dừng lại ở đó, vừa qua, Bộ Thương mại và Công nghiệp Philippines đã khởi xướng điều tra tự vệ đối với sản phẩm gạch men nhập khẩu (mã HS 690722 và 690723). Đây là mặt hàng từng nhiều lần bị điều tra trong quá khứ. Việc nhận diện sớm giúp doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị hồ sơ, điều chỉnh chiến lược hoặc đa dạng hóa thị trường, thay vì bị động khi vụ việc leo thang. Không chỉ cung cấp thông tin, thương vụ đóng vai trò như một “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp giảm rủi ro trong thương mại quốc tế. Không chỉ thị trường Philippines gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại, ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng cho biết, nước này là thị trường có số lượng vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam lớn nhất. Vì vậy, nhiệm vụ nhận diện rủi ro, cảnh báo sớm hỗ trợ rất lớn cho doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp chủ động điều tiết kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15 - 16% và GDP tăng trưởng hai con số. Hiện thực hóa các mục tiêu trên, hệ thống hơn 60 thương vụ Việt Nam tại nước ngoài đang được xác định là lực lượng “tiền tuyến”. Không chỉ là kênh xúc tiến, thương vụ đang chuyển sang cung cấp thông tin chuyên sâu, có phân tích và dự báo, giúp doanh nghiệp xây dựng “bản đồ rủi ro” khi tiếp cận thị trường quốc tế. Nhìn từ thị trường Philippines, một thực tế đang dần rõ nét, rủi ro không còn là yếu tố bất ngờ, mà đã trở thành “trạng thái bình thường mới” của thương mại quốc tế. Trong bối cảnh đó, lợi thế không thuộc về doanh nghiệp đi nhanh nhất, mà thuộc về doanh nghiệp nhìn thấy rủi ro sớm nhất và phản ứng kịp thời nhất. Ở tuyến đầu của quá trình đó, hệ thống thương vụ chính là “tai mắt thị trường”, không chỉ mở đường, mà còn cảnh báo để doanh nghiệp đi đúng hướng, đi chắc và đi xa. Trong hai tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 155,7 tỷ USD, tăng 22,2%. Đà tăng trưởng này đặt ra yêu cầu mới cho doanh nghiệp nước nhà, không chỉ mở rộng quy mô mà còn nâng cao chất lượng và khả năng thích ứng với biến động thị trường quốc tế. Ở góc độ doanh nghiệp, việc tận dụng hiệu quả thông tin từ thương vụ sẽ quyết định khả năng trụ vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Xem thêm

Việt Nam và Cuba thúc đẩy quan hệ hợp tác đặc biệt trong bối cảnh mới

Từ ngày 20-22/6, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thăm Cuba với tư cách Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.   Theo phóng viên TTXVN tại La Habana, từ ngày 20-22/6, đồng chí Lê Hoài Trung - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thăm Cộng hòa Cuba với tư cách Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, thông báo với Đảng Cộng sản Cuba về kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và trao đổi về tình hình hợp tác giữa hai Đảng, hai nước. Trong khuôn khổ chuyến thăm, đồng chí Lê Hoài Trung đã có các cuộc hội kiến Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel, Thủ tướng Manuel Marrero Cruz, hội đàm với Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bruno Rodriguez Parrilla và thông báo kết quả Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam vào sáng 22/6 tại Hội nghị do Trung ương Đảng Cộng sản Cuba tổ chức, với sự chủ trì của Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba Miguel Diaz-Canel và sự tham dự của đông đảo các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Lê Hoài Trung trân trọng chuyển thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Đại tướng Raul Castro Ruz và Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Cuba Diaz-Canel, chuyển lời thăm hỏi của các đồng chí Lãnh đạo cấp cao của Việt Nam tới các đồng chí lãnh đạo Cuba; khẳng định sự quan tâm sâu sắc và lập trường nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tăng cường đoàn kết, ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân Cuba, quyết tâm đồng hành, cùng Cuba thúc đẩy hợp tác anh em vì sự phát triển của mỗi nước, hòa bình, ổn định trên thế giới. Trên cơ sở văn kiện Đại hội XIV, các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội XIV và Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, đồng chí Lê Hoài Trung đã thông tin toàn diện về các vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam và các bài học kinh nghiệm rút ra. Chia sẻ những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội và tình hình tổng thể thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí cũng giới thiệu về các mục tiêu, định hướng lớn, các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược được Đại hội XIV thông qua nhằm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phấn đấu thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và 2045. Đồng chí Lê Hoài Trung đồng thời đánh giá cao những biện pháp chuyển đổi toàn diện, đặc biệt là về kinh tế, mà Hội nghị bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba và Quốc hội Cuba vừa thông qua. Bộ trưởng Lê Hoài Trung khẳng định Việt Nam tin tưởng với bản lĩnh cách mạng, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Cuba dưới sự lãnh đạo của đồng chí Raul Castro và Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Diaz-Canel, Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba anh em sẽ vượt qua những khó khăn, thách thức hiện nay, tiếp tục đưa cách mạng Cuba tiến lên, vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Tại các cuộc tiếp, hội đàm với đoàn công tác của Đảng, Nhà nước Việt Nam, các đồng chí Lãnh đạo Cuba bày tỏ vui mừng và trân trọng trước việc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cử Đặc phái viên sang Cuba thông báo về kết quả Đại hội XIV, cho rằng điều đó thể hiện sự tin cậy đặc biệt và quan hệ thắm tình đồng chí, anh em giữa hai Đảng, hai nước, nhân dân nước, là sự kiện rất có ý nghĩa trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực hiện nay. Các đồng chí Lãnh đạo Cuba nhấn mạnh luôn quan tâm và sẽ tiếp tục tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác giữa hai nước phát triển toàn diện trên các lĩnh vực và đạt được những kết quả quan trọng mới, đáp ứng thiết thực lợi ích của nhân dân hai nước. Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tái khẳng định sự đoàn kết Việt Nam - Cuba. (Ảnh: Việt Hùng/TTXVN) Đồng chí Miguel Diaz-Canel và đồng chí Thủ tướng Manuel Marrero Cruz gửi lời thăm hỏi thân tình tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và các đồng chí Lãnh đạo cấp cao Việt Nam; bày tỏ những ấn tượng sâu sắc, tốt đẹp về truyền thống cách mạng, anh hùng, các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; cho rằng những bài học quan trọng cả về lý luận và thực tiễn của Việt Nam qua 40 năm Đổi mới là rất có giá trị để Cuba tham khảo trong quá trình đưa ra các biện pháp chuyển đổi toàn diện vừa qua. Các đồng chí Lãnh đạo Cuba đánh giá cao các kết quả đáng phấn khởi về hợp tác các mặt giữa hai nước thời gian qua, nhất là về nông nghiệp, thuỷ sản, được sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và sự quyết liệt triển khai của các cơ quan liên quan của cả hai bên. Hai bên cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy trao đổi các đoàn cấp cao, hợp tác giữa các cơ quan liên quan. Trong năm 2026 là dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Lãnh tụ Fidel Castro, hai bên cũng thống nhất phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm quan trọng, nhiều ý nghĩa, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh giao lưu nhân dân và thế hệ trẻ hai nước. Hai bên khẳng định cần phát huy vai trò của các cơ chế hợp tác song phương, tiếp tục phối hợp ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết. Trong chuyến công tác, đồng chí Lê Hoài Trung cũng đã đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm Anh hùng dân tộc Cuba José Martí, Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thủ đô La Habana; thăm và nói chuyện với cộng đồng người Việt Nam và Đại sứ quán Việt Nam tại Cuba; thăm các dự án nông nghiệp, lúa gạo, sản xuất nhu yếu phẩm của doanh nghiệp Việt Nam tại Cuba. Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, để lại dấu ấn đậm nét về tình đoàn kết, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai nước và quyết tâm chung trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác đặc biệt giữa hai nước trong thời gian tới.
Xem thêm

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức cao mới vào năm 2026

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê tại Canada tăng trong năm 2023 - Ảnh minh họa: besthomesbc.com Theo báo cáo về triển vọng thị trường nhà ở mới nhất của Tập đoàn Nhà ở và Thế chấp (CMHC) của Canada, giá nhà có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê trên thị trường tăng trong năm 2023, nguồn cung được dự báo không theo kịp nhu cầu, dẫn đến giá thuê cao hơn và tỉ lệ nhà trống thấp hơn trong những năm tới. Chuyên gia kinh tế trưởng Bob Dugan của CMHC cho biết các điều kiện tài chính không thuận lợi sẽ khiến các công ty xây dựng nhà gặp khó khăn hơn, trong việc bắt đầu các dự án cho thuê mới vào năm 2024. Nhưng đến năm 2025-2026, lãi suất sẽ thấp, sự hỗ trợ liên tục của chính phủ và các chính sách khuyến khích mật độ dân số cao ở các trung tâm đô thị sẽ khiến nhiều dự án trở nên khả thi hơn. Theo CMHC, trong ba năm tới, lãi suất thế chấp giảm và tốc độ tăng dân số mạnh nhất của đất nước kể từ những năm 1950 có thể sẽ thúc đẩy doanh số bán và giá nhà phục hồi. Tính đến cuối năm 2023, doanh số bán nhà đã giảm khoảng 1/3 so với mức đỉnh điểm vào đầu năm 2021. Khi lãi suất thế chấp và sự không chắc chắn về kinh tế giảm vào nửa cuối năm 2024, người mua sẽ bắt đầu quay trở lại thị trường. Sự trỗi dậy này cũng sẽ được thúc đẩy bởi sự thay đổi nhu cầu đối với những ngôi nhà và giá thấp hơn trên thị trường khắp Canada. CMHC dự đoán hoạt động bán hàng từ năm 2025 - 2026 sẽ vượt qua mức trung bình 10 năm qua một chút, nhưng vẫn ở dưới mức kỷ lục được ghi nhận từ năm 2020 đến năm 2021, do giá nhà ở vẫn còn đắt đỏ. Số lượng nhà mới xây ở Canada dự kiến sẽ giảm trong năm nay, trước khi phục hồi vào năm 2025 và 2026, phản ánh tác động trễ của lãi suất cao hơn đối với hoạt động xây dựng mới. Một báo cáo tuần trước của cơ quan này cho thấy 137.915 căn hộ mới đã được khởi công xây dựng trong năm 2023 trên sáu thành phố lớn nhất của Canada, gần tương đương với mức của ba năm qua.
Xem thêm

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Xuất khẩu hồ tiêu tăng tốc, chất lượng là ‘chìa khóa’ giữ thị trường

Xuất khẩu hồ tiêu tăng trưởng tích cực, nhưng yêu cầu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng chặt chẽ đòi hỏi doanh nghiệp kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu.   Thị trường xuất khẩu tiếp tục rộng mở Theo báo cáo của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 168.429 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 1,087 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và 10,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khối doanh nghiệp là hội viên VPSA xuất khẩu 137.640 tấn, chiếm 81,7% tổng lượng xuất khẩu. Nông dân ở Lâm Đồng phát triển hiệu quả hồ tiêu theo hướng hữu cơ. Riêng tháng 7/2026, xuất khẩu hồ tiêu đạt 22.743 tấn, kim ngạch 147,3 triệu USD. Mặc dù giảm 1,6% về lượng và 2,6% về giá trị so với tháng trước, lượng xuất khẩu vẫn tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2025. Tiêu đen nguyên hạt tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ yếu, với 19.623 tấn, tương đương 86,3% tổng lượng xuất khẩu. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Việt Anh, Tổng Thư ký VPSA cho hay, thị trường hồ tiêu thế giới từ đầu năm đến nay tiếp tục được hỗ trợ bởi nguồn cung ở mức thấp, trong khi nhu cầu tại nhiều thị trường lớn có dấu hiệu phục hồi. Tồn kho hồ tiêu toàn cầu hiện còn khoảng 170 nghìn tấn, trong đó Việt Nam khoảng 50-60 nghìn tấn. Vụ thu hoạch hồ tiêu của Việt Nam năm 2026 ước đạt khoảng 170 nghìn tấn, giảm 12,8% so với năm trước. Nguồn cung hạn chế là một trong những yếu tố giúp giá hồ tiêu duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm và tạo nền tảng thuận lợi cho xuất khẩu trong những tháng cuối năm, dù doanh nghiệp vẫn chịu tác động từ chi phí logistics và những bất ổn địa chính trị. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường quan trọng đối với hồ tiêu Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu hồ tiêu 6 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Hoa Kỳ tăng 18,2%. Kết quả này cho thấy, năng lực cung ứng và vị thế của hồ tiêu Việt Nam tại một trong những thị trường tiêu thụ lớn của thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội từ nhu cầu thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu đang phải đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Một tín hiệu tích cực là số cảnh báo của Liên minh châu Âu (EU) đối với hồ tiêu và gia vị Việt Nam đã giảm đáng kể. Trong 6 tháng đầu năm 2026, số cảnh báo đối với nhóm hàng này giảm từ 34 trường hợp cùng kỳ năm 2025 xuống 22 trường hợp; riêng hồ tiêu giảm từ 5 xuống 3 trường hợp. Tại hội nghị Sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026, bà Nguyễn Thị Phượng Vĩ, Trưởng Bộ phận Tư vấn Eurofins Sắc Ký Hải Đăng, đánh giá đây là tín hiệu tích cực đối với ngành gia vị Việt Nam. Nếu trước đây, nhóm gia vị thường nằm trong nhóm 5 ngành hàng có số cảnh báo cao nhất của thị trường EU thì 6 tháng đầu năm nay đã giảm xuống khoảng vị trí thứ 10. Kết quả này cho thấy, công tác kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm và ý thức tuân thủ tiêu chuẩn của doanh nghiệp đã có những chuyển biến. Tuy nhiên, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vẫn là vấn đề cần đặc biệt lưu ý, khi chiếm khoảng 50% số cảnh báo của EU đối với nhóm gia vị. Kiểm soát từ vùng nguyên liệu để đáp ứng tiêu chuẩn mới Kết quả kiểm nghiệm cho thấy một số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật vẫn xuất hiện với tần suất cao trong các sản phẩm gia vị xuất khẩu. Đáng chú ý, trong nhóm 10 hoạt chất xuất hiện nhiều qua thống kê kiểm nghiệm, có tới 6 hoạt chất đã bị EU cấm sử dụng. Đối với hồ tiêu, tình trạng này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải rà soát danh mục thuốc bảo vệ thực vật đang được sử dụng tại vùng nguyên liệu, đồng thời tăng cường kiểm soát quá trình sản xuất thay vì chỉ tập trung kiểm tra ở khâu cuối cùng. Theo đánh giá từ kết quả kiểm nghiệm các mẫu tiêu đen, tiêu trắng và tiêu bột, một số hoạt chất được phát hiện với tần suất cao, kéo theo nguy cơ mẫu không đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Đây là vấn đề cần được kiểm soát ngay từ vùng sản xuất để hạn chế nguy cơ cảnh báo, trả hàng và ảnh hưởng uy tín của ngành hàng. Với quế và hoa hồi, mức độ phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhìn chung thấp hơn hồ tiêu. Tuy nhiên, một số hoạt chất được phát hiện vẫn thuộc nhóm đã bị EU cấm sử dụng. Đáng chú ý, Anthraquinone có tỷ lệ mẫu vi phạm khá cao ở cả quế và hoa hồi. Không chỉ yêu cầu kiểm soát từng hoạt chất, doanh nghiệp còn cần chuẩn bị cho một xu hướng mới trong quản lý an toàn thực phẩm của EU: đánh giá rủi ro tích lũy (Cumulative Risk Assessment - CRA). Theo bà Nguyễn Thị Phượng Vĩ, trước đây việc đánh giá chủ yếu dựa trên từng hoạt chất và so sánh với mức dư lượng tối đa (MRL). Tuy nhiên, EU đang chuyển sang xem xét tổng mức phơi nhiễm của người tiêu dùng đối với nhiều hoạt chất có cùng cơ chế tác động lên một cơ quan hoặc chức năng của cơ thể. Chương trình nghiên cứu này được EU triển khai từ năm 2021 và dự kiến hoàn tất vào năm 2030. Đến tháng 6/2026, Cơ quan An toàn thực phẩm châu Âu (EFSA) đã công bố các kết quả nghiên cứu liên quan đến tác động của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đối với khả năng sinh sản và hoàn thiện cơ sở khoa học về độc tính đối với thận. Theo báo cáo mới nhất, EFSA xác định 46 hoạt chất ưu tiên cùng các chất chuyển hóa để nghiên cứu trong đánh giá rủi ro tích lũy. Đây là những hoạt chất doanh nghiệp gia vị cần đặc biệt theo dõi, bởi nhiều hoạt chất trong số này cũng thường xuyên được phát hiện trong các mẫu gia vị xuất khẩu của Việt Nam. Hiện EU vẫn áp dụng các quy định về MRL theo Quy định (EC) số 396/2005. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Phượng Vĩ, sau khi chương trình nghiên cứu hoàn tất, EU có thể điều chỉnh MRL đối với một số hoạt chất ưu tiên, đặc biệt những hoạt chất thường xuyên xuất hiện trong các sản phẩm gia vị. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp không chờ đến khi quy định mới có hiệu lực mới điều chỉnh sản xuất. Thay vào đó, cần chủ động theo dõi chính sách, rà soát danh mục thuốc bảo vệ thực vật, kiểm soát vùng nguyên liệu và tăng cường kiểm nghiệm để giảm nguy cơ phát sinh các hoạt chất có khả năng bị siết chặt trong tương lai. Trong bối cảnh yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và minh bạch chuỗi cung ứng ngày càng được nâng cao, kiểm soát dư lượng ngay từ vùng nguyên liệu sẽ trở thành yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của hồ tiêu Việt Nam. Theo các chuyên gia trong ngành, kết quả xuất khẩu 7 tháng đầu năm cho thấy, hồ tiêu Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng và vị thế tại các thị trường lớn. Song để biến lợi thế về thị trường thành tăng trưởng bền vững, ngành hàng cần tiếp tục chuyển trọng tâm từ kiểm soát tại khâu xuất khẩu sang quản lý chất lượng xuyên suốt chuỗi sản xuất. Qua đó, chủ động thích ứng với những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Đà tăng xuất khẩu đang mở thêm dư địa cho hồ tiêu Việt Nam nhưng kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật từ vùng nguyên liệu sẽ quyết định khả năng duy trì thị trường dài hạn.
Xem thêm

Xuất khẩu nông sản cần chủ động thích ứng quy định SPS mới của EU, Anh

Việc cập nhật kịp thời các quy định SPS, EUDR và tiêu chuẩn kỹ thuật mới sẽ giúp xuất khẩu nông sản giảm rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường EU và Anh.   SPS trở thành 'tấm vé thông hành' vào thị trường EU và Anh Ngày 24/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị cập nhật các quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland (UKVFTA). Xu hướng siết chặt tiêu chuẩn SPS của EU đòi hỏi doanh nghiệp kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu, chủ động thích ứng để duy trì lợi thế xuất khẩu. Phát biểu khai mạc hội nghị, ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam cho biết, việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs) đã mở ra cơ hội lớn để nông sản, thực phẩm Việt Nam mở rộng thị trường, đặc biệt tại các thị trường có giá trị cao như Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Anh. Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm thách thức. Theo đó, cùng với ưu đãi thuế quan, các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu khắt khe về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động, thực vật, truy xuất nguồn gốc, ghi nhãn, bao bì, quản lý vùng nguyên liệu và cơ sở chế biến. "Đáp ứng các quy định SPS hiện không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để duy trì thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững ngành nông nghiệp", ông Ngô Hồng Phong nhấn mạnh. Theo ông Phong, xu hướng thương mại nông sản toàn cầu đang chuyển mạnh sang các tiêu chuẩn minh bạch, chuẩn hóa và kiểm soát chất lượng trên toàn chuỗi giá trị. Do đó, việc thực thi hiệu quả các cam kết trong EVFTA và UKVFTA không chỉ giúp doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế quan mà còn đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chí phát triển bền vững. Hiện EU và Vương quốc Anh là hai thị trường xuất khẩu quan trọng của nông, lâm, thủy sản Việt Nam. Riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang EU đạt khoảng 9,28 tỷ USD, chiếm khoảng 13% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, đứng thứ ba sau Trung Quốc và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng thị trường, các quy định về SPS, đặc biệt là giới hạn dư lượng tối đa (MRL), kiểm soát an toàn thực phẩm, kiểm dịch động, thực vật và các yêu cầu mới như Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), liên tục được cập nhật. Ông Ngô Hồng Phong cho rằng, yêu cầu của thị trường EU hiện không chỉ dừng ở các tiêu chuẩn SPS truyền thống mà đã mở rộng sang chuyển đổi số, minh bạch dữ liệu và phát triển bền vững. Nếu doanh nghiệp không chủ động theo dõi, cập nhật và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ trong toàn bộ chuỗi sản xuất, chế biến và xuất khẩu, nguy cơ mất thị trường hoặc gián đoạn xuất khẩu là rất lớn. Chủ động kiểm soát chất lượng dể giữ thị trường xuất khẩu Thông tin tại hội nghị, TS. Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, EU đã ban hành 74 thông báo SPS, tăng so với 65 thông báo cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, Vương quốc Anh chỉ ban hành 15 thông báo, giảm từ 22 thông báo của 6 tháng đầu năm 2025. Điểm đáng chú ý là EU tiếp tục xu hướng hạ mức dư lượng tối đa đối với nhiều hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời bổ sung thêm các đối tượng kiểm dịch thực vật và tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm. Ngược lại, Vương quốc Anh lại có xu hướng nới lỏng giới hạn dư lượng đối với một số hoạt chất. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa doanh nghiệp có thể áp dụng chung một tiêu chuẩn cho cả hai thị trường. "Doanh nghiệp không thể mặc định rằng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn EU thì sẽ đáp ứng tiêu chuẩn của Anh và ngược lại. Mỗi thị trường có quy định riêng, thậm chí ngay trong EU cũng bắt đầu xuất hiện sự khác biệt giữa các quốc gia thành viên", TS. Ngô Xuân Nam lưu ý. Thời gian gần đây, một số quốc gia như Pháp và Đức đã ban hành thêm các quy định riêng về kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật với yêu cầu cao hơn quy định chung của EU. Điều này khiến hàng hóa được phép nhập khẩu vào EU nhưng vẫn có thể gặp khó khăn khi lưu thông tại một số quốc gia thành viên. Đáng chú ý, EU đang lấy ý kiến dự thảo siết chặt mức dư lượng tối đa đối với nhiều hoạt chất sử dụng trên cà chua, xoài, trái cây có múi, dâu tây, chè và nhiều loại nông sản khác. Nhiều hoạt chất hiện vẫn được phép sử dụng tại Việt Nam nhưng EU dự kiến giảm mức dư lượng xuống chỉ còn 0,01-0,05 ppm, thấp hơn rất nhiều so với quy định hiện hành. "Doanh nghiệp vẫn còn thời gian chuẩn bị do hầu hết các quy định mới đều có lộ trình áp dụng sau khoảng 6 tháng kể từ khi công bố. Đây là khoảng thời gian quan trọng để điều chỉnh quy trình sản xuất, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu", ông Ngô Xuân Nam nhấn mạnh. Theo thống kê của Văn phòng SPS Việt Nam, hiện EU tiếp tục áp dụng biện pháp kiểm soát tăng cường đối với 4 mặt hàng nông sản của Việt Nam gồm sầu riêng, thanh long, ớt và đậu bắp. Trong đó, sầu riêng được kiểm tra tại cửa khẩu với tần suất 20%; thanh long 30%; còn ớt và đậu bắp bị kiểm tra 50% và phải kèm chứng thư phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. So với trước đây số mặt hàng bị kiểm soát đã giảm từ 7 xuống còn 4, cho thấy chất lượng nông sản Việt Nam đã có nhiều cải thiện. "Thanh long của Việt Nam nhiều tháng liên tiếp không phát sinh lô hàng vi phạm. Văn phòng SPS Việt Nam đã kiến nghị phía EU xem xét giảm tần suất kiểm tra đối với mặt hàng này", ông Nam cho biết. Bên cạnh dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, EU cũng liên tục cập nhật danh mục sinh vật gây hại thuộc diện kiểm dịch. Đáng chú ý, một đối tượng kiểm dịch mới đã được ghi nhận trên cây có múi tại Đồng bằng sông Cửu Long, đòi hỏi các địa phương tăng cường giám sát vùng trồng và chủ động kiểm soát. Đối với nhóm thực phẩm chế biến, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý các quy định về ghi nhãn, thành phần phối trộn, chất gây dị ứng, vật liệu bao bì tiếp xúc với thực phẩm cũng như nguyên liệu có nguồn gốc động vật. TS. Ngô Xuân Nam dẫn chứng, trong 6 tháng đầu năm 2026 đã có doanh nghiệp Việt Nam bị EU thu hồi và tiêu hủy sản phẩm do sử dụng trứng trong thực phẩm xuất khẩu, trong khi EU chưa mở cửa nhập khẩu trứng gia cầm từ Việt Nam. Một số doanh nghiệp khác cũng bị cảnh báo do bao bì không đáp ứng quy định an toàn thực phẩm. Các quy định SPS của EU hiện đã chuyển từ kiểm soát tại cửa khẩu sang quản lý toàn bộ chuỗi sản xuất theo phương pháp đánh giá rủi ro. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu, chủ động kiểm nghiệm trước khi xuất khẩu, tuân thủ nghiêm quy định về ghi nhãn, phụ gia thực phẩm và kiểm soát sinh vật gây hại. Ngoài ra, từ năm 2028, EU sẽ triển khai hệ thống điện tử mới trong xử lý hồ sơ nhập khẩu, yêu cầu toàn bộ chứng từ được số hóa. Văn phòng SPS Việt Nam sẽ tiếp tục cập nhật lộ trình, hướng dẫn doanh nghiệp chuẩn bị và thích ứng với quy định mới. "Doanh nghiệp cần chủ động thích ứng với những thay đổi của thị trường thay vì chờ quy định có hiệu lực. Đáp ứng tốt các yêu cầu SPS không chỉ giúp duy trì thị trường EU và Vương quốc Anh mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên các thị trường cao cấp", TS. Ngô Xuân Nam nhấn mạnh. Theo các chuyên gia trong ngành, EU liên tục siết chặt quy định SPS và cập nhật EUDR, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam chủ động kiểm soát chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn để giữ vững thị trường xuất khẩu.
Xem thêm

Hoa Kỳ công bố kết luận cuối cùng mức thuế quan điều tra theo Mục 301 đối với 60 nền kinh tế

Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã ban hành Kết luận cuối cùng trong vụ việc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế.   Ngày 24 tháng 7 năm 2026 (giờ Việt Nam), Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã ban hành Kết luận cuối cùng trong vụ việc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế về việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức. Theo Kết luận cuối cùng, USTR giữ nguyên hai mức thuế bổ sung là 10% và 12,5% so với Kết luận sơ bộ, đồng thời bổ sung cơ chế bù trừ với thuế MFN đối với một số đối tác. USTR giữ nguyên hai mức thuế bổ sung là 10% và 12,5% so với Kết luận sơ bộ, đồng thời bổ sung cơ chế bù trừ với thuế MFN đối với một số đối tác. Ảnh: Hưng Nguyên Hiệu lực của biện pháp Biện pháp thuế theo Mục 301 có hiệu lực từ ngày 24 tháng 7 năm 2026 (giờ miền Đông Hoa Kỳ). USTR đồng thời quy định một số trường hợp chuyển tiếp và miễn trừ đối với hàng hóa đáp ứng các điều kiện cụ thể theo quy định. Hàng hóa được miễn trừ Cùng với Kết luận cuối cùng, USTR đã công bố Danh mục hàng hóa được miễn trừ khỏi biện pháp thuế theo Mục 301. So với Kết luận sơ bộ, phạm vi miễn trừ được mở rộng đáng kể nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đối với nền kinh tế và chuỗi cung ứng của Hoa Kỳ. Các nhóm hàng được miễn trừ chủ yếu gồm: nguyên liệu và đầu vào thiết yếu có nguy cơ thiếu nguồn cung trong nước; sản phẩm có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng hoặc ảnh hưởng trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế Hoa Kỳ nếu bị áp thuế; sản phẩm Hoa Kỳ không sản xuất hoặc sản xuất không đủ nhu cầu; một số sản phẩm mà việc áp thuế không đạt được mục tiêu chính sách; và một số sản phẩm được miễn trừ theo các cam kết giữa Hoa Kỳ với một số đối tác. Việt Nam thuộc nhóm 38 quốc gia và vùng lãnh thổ Hoa Kỳ áp dụng mức thuế 12,5% đối với khoảng 37% kim ngạch xuất khẩu hiện nay của Việt Nam sang Hoa Kỳ (sau khi loại bỏ ra khỏi phạm vi các miễn trừ theo pháp luật Hoa Kỳ). Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý nhập khẩu hàng hóa liên quan đến lao động cưỡng bức Bên cạnh Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật về lao động cấm triệt để mọi hành vi cưỡng bức lao động, ngày 22 tháng 7 năm 2026, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quản lý ngoại thương, trong đó bổ sung quy định cấm nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức. Việc ban hành Nghị định thể hiện quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, thực hiện đầy đủ các công ước của ILO và các cam kết quốc tế khác và tăng cường minh bạch, bền vững trong chuỗi cung ứng. Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan trao đổi với phía Hoa Kỳ về việc triển khai các cam kết và những bước tiến của Việt Nam trong hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức; đồng thời tiếp tục làm việc với USTR và các cơ quan liên quan của Hoa Kỳ nhằm phản ánh đầy đủ những nỗ lực của Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật và thực thi và từ đó áp dụng các quy định về thuế nhập khẩu phù hợp với thực tế của Việt Nam.
Xem thêm

Xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng hơn 184% trong tháng 5

5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng 184,7%, đưa mức xuất siêu hàng hóa có xuất xứ nội địa vượt 5,6 tỷ USD.   Thương mại Việt Nam - Singapore tăng hơn 43% Theo Thương vụ Việt Nam tại Singapore dẫn số liệu của Cơ quan Quản lý doanh nghiệp Singapore, trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Singapore với thế giới đạt 729,3 tỷ SGD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu đạt 388,6 tỷ SGD, tăng 30,4%; nhập khẩu đạt 340,7 tỷ SGD, tăng 29,6%. Đáng chú ý, hoạt động thương mại của Singapore với các đối tác lớn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Đài Loan (Trung Quốc) tạm thời giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Singapore với kim ngạch trao đổi song phương đạt 127,4 tỷ SGD, tăng 90% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là Trung Quốc với 72 tỷ SGD tăng 13,9%, Malaysia đạt 67,9 tỷ SGD tăng 13,5%, Hoa Kỳ đạt 63,5 tỷ USD tăng 7,3% và Hồng Công (Trung Quốc) đạt 44,6 tỷ SGD tăng 29%. Trong bức tranh đó, Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí đối tác thương mại lớn thứ 10 của Singapore. Tổng kim ngạch thương mại song phương trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 23,3 tỷ SGD, tăng 43,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu của Singapore sang Việt Nam đạt 12,3 tỷ SGD, tăng 4,8%; nhập khẩu từ Việt Nam đạt 11 tỷ SGD, tăng tới 142,9%. Đáng chú ý, nếu chỉ tính hàng hóa có xuất xứ nội địa, Singapore đang nhập siêu từ Việt Nam hơn 7,3 tỷ SGD, tương đương khoảng 5,6 tỷ USD. Điều này cho thấy giá trị hàng hóa có xuất xứ thực sự từ Việt Nam xuất sang Singapore đang ở mức cao và tiếp tục gia tăng. Riêng trong tháng 5/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt gần 4,5 tỷ SGD, tăng 42,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Singapore sang Việt Nam đạt 2 tỷ SGD, giảm 11,8%, trong khi nhập khẩu từ Việt Nam đạt gần 2,5 tỷ SGD, tăng mạnh 184,7%. Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí đối tác thương mại lớn thứ 10 của Singapore. Ảnh minh hoạ Về cơ cấu hàng hóa, trong 5 tháng đầu năm 2026, hai nhóm hàng là máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) và nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) tiếp tục là hai nhóm hàng hóa xuất khẩu thứ 1 và 2 của Singapore tới Việt Nam. Cụ thể, nhóm HS 85 đạt 5,9 tỷ SGD, giảm nhẹ 2,8% so với cùng kỳ năm trước; nhóm HS 27 đạt 2,5 tỷ SGD, tăng 28,8%. Tuy cùng chiếm tỷ trọng lớn, nhưng bản chất của hai nhóm hàng này có sự khác biệt rõ rệt. Đối với nhóm HS 85, có tới 95,3% giá trị là hàng tạm nhập tái xuất từ nước thứ ba thông qua Singapore. Trong khi đó, nhóm HS 27 chủ yếu là hàng hóa được sản xuất trong nước tại Singapore, với tỷ trọng giá trị nội địa chiếm tới 90,1% trong tổng xuất khẩu sang Việt Nam. Ngoài ra, một số nhóm hàng khác cũng ghi nhận tăng trưởng đáng chú ý như nhóm lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí (HS 84) đạt 1,2 tỷ SGD, tăng 49,7%; nhóm tinh dầu, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh (HS 33) đạt 292,7 triệu SGD, tăng 14,4%. Ở chiều ngược lại, máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) tiếp tục là nhóm hàng Singapore nhập khẩu nhiều nhất từ Việt Nam với giá trị gần 5,9 tỷ SGD, tăng tới 161,8%, chiếm 53,6% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam. Đứng thứ hai là nhóm HS 84 với gần 3,7 tỷ SGD, tăng 268,7%. Một số nhóm hàng khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao như nhiên liệu và sản phẩm dầu mỏ (HS 27) tăng 244,9%; muối, lưu huỳnh, đất đá, thạch cao, vôi và xi măng (HS 25) tăng 55,3%; giấy và sản phẩm từ giấy (HS 48) tăng 58,1%; đồ chơi và dụng cụ thể thao (HS 95) tăng 87,9%. Theo báo cáo ngoại thương được Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) công bố ngày 17/6/2026, xuất khẩu nội địa phi dầu mỏ của Singapore tăng 38,4%, trong đó xuất khẩu điện tử tăng tới 94,8%, chủ yếu nhờ nhu cầu liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), mạch tích hợp, sản phẩm lưu trữ dữ liệu và máy tính cá nhân. Đây là nền tảng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của các nhóm hàng HS 85 và HS 84, đồng thời phản ánh việc Việt Nam ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng điện tử, linh kiện, máy móc và thiết bị công nghiệp trong khu vực. Đối với nhóm nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất (HS 27), tăng trưởng thương mại được hỗ trợ bởi nhu cầu đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của Việt Nam. Trong 4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu sản phẩm dầu mỏ tinh chế của Việt Nam tăng 28,7%, trong khi nhập khẩu LPG tăng 34,5%. Trong bối cảnh đó, Singapore tiếp tục phát huy vai trò là trung tâm giao dịch, lưu kho, lọc hóa dầu và phân phối nhiên liệu hàng đầu khu vực, qua đó góp phần thúc đẩy kim ngạch thương mại năng lượng giữa hai nước. Dư địa cho doanh nghiệp Việt Nam Theo ông Cao Xuân Thắng, Tham tán thương mại Việt Nam tại Singapore, báo cáo của Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) công bố ngày 25/5/2026 cho thấy, kinh tế Singapore trong năm 2026 được đánh giá là đang tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng khá tích cực, nhưng triển vọng chung trở nên thận trọng hơn do môi trường bên ngoài nhiều biến động. GDP Singapore trong quý I/2026 tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 5,7% của quý IV/2025. Trên cơ sở này, MTI tiếp tục duy trì dự báo tăng trưởng GDP cả năm trong khoảng 2-4%. Động lực tăng trưởng nổi bật đến từ các ngành có liên hệ chặt chẽ với chu kỳ công nghệ toàn cầu, đặc biệt là làn sóng phát triển trí tuệ nhân tạo (AI). Nhu cầu AI đã thúc đẩy mạnh hoạt động của các lĩnh vực điện tử, cơ khí chính xác, máy móc thiết bị và bán buôn. Trong quý I/2026, ngành chế tạo của Singapore tăng 7,9%; xây dựng tăng 11,8%; bán buôn tăng 11,7%; tài chính - bảo hiểm tăng 5,7%. Đây đều là những lĩnh vực tạo ra nhu cầu lớn đối với linh kiện điện tử, máy móc, vật liệu xây dựng, dịch vụ logistics và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng của Singapore cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Theo MTI, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông làm gia tăng nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng và nguyên liệu đầu vào, từ đó đẩy chi phí sản xuất và lạm phát tăng cao. Một số nhà máy lọc dầu và hóa dầu tại Singapore đã phải giảm công suất, trong khi nhiều doanh nghiệp hóa chất hạ nguồn phải tuyên bố bất khả kháng. Theo khảo sát của Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), lạm phát toàn phần năm 2026 được dự báo ở mức 2,3%, tăng đáng kể so với mức 1,5% trong dự báo trước đó; lạm phát lõi cũng tăng từ 1,5% lên 2%. Áp lực giá cả có thể làm giảm thu nhập thực tế của hộ gia đình và khiến người dân thận trọng hơn trong chi tiêu. Đây là lý do dự báo tiêu dùng tư nhân bị điều chỉnh giảm từ 3,5% xuống 3,2%, qua đó kéo dự báo tăng trưởng GDP chung mà MAS đưa ra xuống mức 3,5%. Dù vậy, thị trường lao động Singapore vẫn được đánh giá là tương đối ổn định. Theo ông Cao Xuân Thắng, tỷ lệ thất nghiệp cuối năm 2026 được dự báo ở mức 2,1%, không thay đổi so với khảo sát trước đó. Nhu cầu lao động vẫn duy trì tích cực trong các lĩnh vực công nghệ, tài chính, xây dựng, logistics và dịch vụ chuyên môn, dù sự phân hóa giữa các ngành có thể ảnh hưởng đến tốc độ tạo việc làm trong thời gian tới. Ông Cao Xuân Thắng, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Singapore. Ảnh: TTXVN Singapore vẫn được đánh giá là thị trường có sức mua cao, trung tâm thương mại - tài chính hàng đầu khu vực và là cửa ngõ quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế. Theo ông Cao Xuân Thắng, nhu cầu của thị trường Singapore thời gian tới có thể tiếp tục tích cực đối với các nhóm hàng công nghệ, linh kiện điện tử, máy móc thiết bị, sản phẩm phục vụ xây dựng, logistics, thực phẩm, đồ uống và hàng tiêu dùng thiết yếu. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng chất lượng, tiêu chuẩn, khả năng giao hàng ổn định và giá cả cạnh tranh, nhất là trong bối cảnh nhà nhập khẩu và người tiêu dùng Singapore có thể thận trọng hơn do lạm phát và chi phí sinh hoạt. Ông Cao Xuân Thắng cho biết, Thương vụ Việt Nam tại Singapore sẽ tiếp tục bám sát và cập nhật tình hình, cơ chế, chính sách của địa bàn nhằm kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp. Đồng thời, thương vụ sẽ tăng cường triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam kết nối giao thương, trưng bày hàng hóa, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm, qua đó nâng cao sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam tại thị trường Singapore. Thương vụ Việt Nam tại Singapore sẽ đẩy mạnh giới thiệu thị trường và các ngành hàng của Việt Nam tới các đối tác Singapore và khu vực, hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa vào thị trường này, đồng thời hỗ trợ các đoàn công tác từ Singapore sang Việt Nam tìm kiếm nguồn hàng, xúc tiến đầu tư trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Thương vụ cũng sẽ tiếp tục đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt Nam sang Singapore triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại và mở rộng cơ hội hợp tác kinh doanh.
Xem thêm
04/09/2026

36 thông báo SPS mới, doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý gì?

Từ ngày 16-31/8, WTO ghi nhận 36 thông báo SPS mới, trong đó nhiều thị trường điều chỉnh MRL và yêu cầu an toàn thực phẩm đối với nông sản.   Hoa Kỳ, Nhật Bản cập nhật hàng loạt mức dư lượng Văn phòng SPS Việt Nam vừa tổng hợp các thông báo dự thảo và thông báo có hiệu lực về biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) của các thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong thời gian từ ngày 16-31/8/2026. Theo đó, có 36 thông báo được ghi nhận, gồm 22 thông báo dự thảo lấy ý kiến và 14 thông báo đã có hiệu lực. Tại Tanzania, 8 thông báo chính thức thông qua các tiêu chuẩn quốc gia đối với nhiều sản phẩm thực phẩm và gia vị, trong đó có hoa hồi. Đáng chú ý, Hoa Kỳ ban hành 9 thông báo liên quan đến phụ gia màu, phụ gia thức ăn chăn nuôi và mức giới hạn dư lượng tối đa (MRL) đối với hóa chất bảo vệ thực vật. Trong đó, các thông báo G/SPS/N/USA/3592, G/SPS/N/USA/3594 và G/SPS/N/USA/3595 đề xuất sửa đổi quy định về phụ gia màu, cho phép sử dụng chiết xuất cây rum, dung môi acetone trong sản xuất dầu cà rốt và màu xanh gardenia trong một số nhóm thực phẩm, đồ uống. Thông báo G/SPS/N/USA/3593 ban hành quy định cuối cùng về việc sử dụng chromium DL-methionine chelate làm nguồn dinh dưỡng bổ sung trong thức ăn hoàn chỉnh cho gia súc. Các thông báo còn lại của Hoa Kỳ tập trung vào việc ban hành và tiếp nhận hồ sơ kiến nghị thiết lập hoặc sửa đổi MRL đối với nhiều hoạt chất bảo vệ thực vật như carboxin, cypermethrin, thiabendazole, fenpropathrin, iptriazopyrid... trên nhiều nhóm nông sản, thực phẩm. Tại Nhật Bản, 5 thông báo liên quan đến dự thảo sửa đổi MRL đối với thuốc bảo vệ thực vật và thuốc thú y trong thực phẩm cũng được đưa ra. Đáng chú ý, thông báo G/SPS/N/JPN/1427 đề xuất cập nhật MRL đối với hoạt chất imidacloprid trên nhiều nhóm hàng, từ thịt, thủy sản, sữa, trứng, mật ong đến rau củ, trái cây, ngũ cốc và chè. Nhật Bản đồng thời đề xuất sửa đổi, gồm tăng, giảm hoặc bãi bỏ MRL đối với các hoạt chất chlorothalonil, pyrifluquinazon, tolfenpyrad và boscalid trên nhiều loại nông sản, gia vị và sản phẩm động vật. Canada cũng đưa ra thông báo dự thảo về MRL đối với epyrifenacil trên trứng, sữa, thịt động vật và các loại hạt. Một quy định khác được sửa đổi theo hướng nâng mức giới hạn hàm lượng nước ép lên tối đa 30% đối với đồ uống có chứa caffeine, đồng thời bổ sung yêu cầu ghi nhãn nhằm tránh gây hiểu lầm. Doanh nghiệp cần chủ động cập nhật quy định Bên cạnh các thị trường lớn, nhiều thành viên WTO cũng đưa ra các quy định và dự thảo mới liên quan trực tiếp đến hàng hóa xuất nhập khẩu. Tại Tanzania, 8 thông báo chính thức thông qua các tiêu chuẩn quốc gia đối với nhiều sản phẩm thực phẩm và gia vị, trong đó có cỏ cà ri, hoa hồi, gia vị Tandoori masala, Biriani masala, đồ uống bổ dưỡng từ gừng và nghệ, dưa cải muối, kim chi và kombucha. Chile đưa ra các quy định liên quan đến điều kiện vệ sinh thú y đối với gia cầm một ngày tuổi, trứng ấp nhập khẩu và tinh dịch bò đông lạnh. Một số thị trường khác cũng có những thay đổi đáng chú ý. Thổ Nhĩ Kỳ dự thảo quy chuẩn về nước ép trái cây và các sản phẩm tương tự, với yêu cầu về thành phần hóa học, lượng đường bổ sung, tỷ lệ nước ép tối thiểu và độ Brix. Israel dự thảo cập nhật MRL thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm theo hướng hài hòa với các quy định mới của Liên minh châu Âu. Australia đề xuất sửa đổi, bãi bỏ MRL đối với một số hóa chất nông nghiệp và thuốc thú y. Dominica dự thảo quy chuẩn vệ sinh đối với thực phẩm và đồ uống, áp dụng từ khâu sản xuất đến bán lẻ, trong đó yêu cầu tuân thủ các tiêu chuẩn GMP và HACCP. Hàn Quốc dự kiến sửa đổi quy định về công nhận nguyên liệu thực phẩm chức năng và cập nhật mức phí thẩm định hồ sơ. Malaysia cập nhật điều kiện nhập khẩu đối với cá cảnh nước ngọt, cá cảnh biển và động vật giáp xác cảnh sống. Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) gia hạn thời gian góp ý đối với dự thảo quy chuẩn kỹ thuật về MRL thuốc thú y trong thực phẩm. Armenia dự thảo sửa đổi các yêu cầu thú y chung và mẫu giấy chứng nhận thú y đối với hàng hóa thuộc diện kiểm dịch động vật. Văn phòng SPS Việt Nam đề nghị các cơ quan, đơn vị và hiệp hội cần nghiên cứu nội dung thông báo, đồng thời gửi ý kiến góp ý bằng tiếng Anh và tiếng Việt (nếu có) về Văn phòng trước 3 ngày so với thời hạn của từng thông báo để tổng hợp, gửi quốc gia ban hành thông báo. Ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam: Việc cập nhật sớm các thay đổi về MRL, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và yêu cầu kiểm dịch có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhất là trong bối cảnh các thị trường ngày càng điều chỉnh tiêu chuẩn đối với nông sản, thực phẩm và sản phẩm có nguồn gốc động, thực vật.
Xem thêm

Nhà máy Phong Thảo – phát triển sản phẩm từ trái nhàu Việt Nam theo hướng hữu cơ và chuẩn hóa sản xuất

04/09/2026
Sở hữu vùng nguyên liệu hữu cơ rộng 100 ha cùng nhà máy sản xuất có diện tích 10.000 m², Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Nông nghiệp & Dược liệu Phong Thảo (KJS) đang xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ vùng nguyên liệu đến chế biến các sản phẩm từ trái nhàu, hướng tới nâng cao giá trị nông sản và dược liệu Việt Nam. Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, nông sản hữu cơ và nguyên liệu thực vật ngày càng được quan tâm tại nhiều thị trường. Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam khai thác tốt hơn những nguồn nguyên liệu bản địa, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu. Trong lĩnh vực này, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Nông nghiệp & Dược liệu Phong Thảo (KJS) tập trung phát triển các sản phẩm từ trái nhàu (Noni) – một loại nguyên liệu được doanh nghiệp định hướng khai thác theo mô hình nông nghiệp sạch và chế biến sâu. Phát triển vùng nguyên liệu hữu cơ 100 ha Một trong những nền tảng quan trọng trong chuỗi sản xuất của Phong Thảo là vùng nguyên liệu hữu cơ có diện tích khoảng 100 ha. Theo thông tin doanh nghiệp công bố, vùng nguyên liệu được xây dựng tại khu vực có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp cho việc phát triển cây nông nghiệp và dược liệu. Doanh nghiệp áp dụng phương pháp canh tác hữu cơ, hạn chế việc sử dụng các hóa chất nông nghiệp và hướng tới kiểm soát chất lượng nguyên liệu ngay từ khâu đầu vào. Việc chủ động vùng nguyên liệu giúp Phong Thảo có điều kiện kiểm soát tốt hơn nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, đồng thời tạo nền tảng cho việc xây dựng chuỗi sản xuất có khả năng truy xuất và ổn định nguồn cung. Đây cũng là yếu tố ngày càng được các đối tác quốc tế quan tâm khi tìm kiếm nguồn cung nông sản và sản phẩm dược liệu từ Việt Nam. Nhà máy 10.000 m², chú trọng tiêu chuẩn hóa sản xuất Phong Thảo hiện sở hữu nhà máy sản xuất có diện tích khoảng 10.000 m², được xây dựng ngay trong khu vực vùng nguyên liệu. Theo thông tin công bố trên website doanh nghiệp, nhà máy áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo GMP (Good Manufacturing Practices) và ISO 22000:2018, hướng tới kiểm soát các yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm và chất lượng trong quá trình sản xuất. Việc xây dựng nhà máy tại khu vực gần vùng nguyên liệu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc kết nối giữa khâu thu hoạch, sơ chế và chế biến, đồng thời rút ngắn khoảng cách vận chuyển nguyên liệu trước khi đưa vào sản xuất. Đây được xem là một trong những lợi thế khi doanh nghiệp phát triển các sản phẩm chế biến sâu từ nông sản và dược liệu. Quy trình sản xuất khép kín, ứng dụng thiết bị tự động Một điểm đáng chú ý trong mô hình sản xuất của Phong Thảo là việc đầu tư hệ thống thiết bị và quy trình chế biến theo hướng khép kín. Theo doanh nghiệp, quy trình sản xuất được triển khai qua nhiều công đoạn, từ xử lý nguyên liệu, ngâm ủ, thanh trùng, chiết rót đến đóng gói và lưu kho thành phẩm. Hệ thống chiết rót tự động được sử dụng trong công đoạn đóng gói nhằm hạn chế sự can thiệp trực tiếp của con người và tăng tính ổn định của sản phẩm. Đáng chú ý, nhà máy có hệ thống hàng trăm bồn chứa với dung tích lên tới 11.000 lít/bồn, phục vụ quá trình ngâm ủ nguyên liệu. Website doanh nghiệp cho biết một số sản phẩm được thực hiện quá trình ngâm ủ trong thời gian dài, có thể lên tới 3 năm. Việc đầu tư vào hệ thống bồn chứa và quy trình ngâm ủ dài ngày cho thấy doanh nghiệp lựa chọn hướng phát triển sản phẩm dựa trên quá trình chế biến chuyên sâu thay vì chỉ cung cấp nguyên liệu thô. Đa dạng hóa sản phẩm từ trái nhàu Từ nguồn nguyên liệu nhàu, Phong Thảo hiện phát triển nhiều dòng sản phẩm khác nhau, bao gồm nước cốt nhàu nguyên chất, nước cốt nhàu Phong Thảo, nhàu dược liệu, cao nhàu thảo dược, trái nhàu sấy lạnh, rễ nhàu khô và tinh chất trái nhàu. Trong đó, sản phẩm cao nhàu được doanh nghiệp giới thiệu là sản phẩm chiết xuất từ trái nhàu khô sấy lạnh, sử dụng công nghệ chiết bằng hơi trong thời gian 48 giờ. Việc phát triển nhiều dạng sản phẩm giúp doanh nghiệp khai thác nguyên liệu theo hướng đa dạng hóa, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các nhóm khách hàng và thị trường khác nhau. Từ nông sản Việt Nam đến sản phẩm có giá trị gia tăng Một trong những hướng đi đáng chú ý của Phong Thảo là chuyển đổi từ việc khai thác nguyên liệu nhàu sang phát triển các sản phẩm chế biến sâu. Thay vì chỉ đưa trái nhàu ra thị trường dưới dạng nguyên liệu, doanh nghiệp xây dựng chuỗi giá trị bao gồm vùng nguyên liệu – thu hoạch – sơ chế – chế biến – đóng gói – phân phối, qua đó nâng cao giá trị của nguyên liệu và tạo ra các sản phẩm có thương hiệu. Theo giới thiệu của doanh nghiệp, sản phẩm của Phong Thảo đã đạt OCOP 4 sao và từng được xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc. Đây là những dấu mốc cho thấy doanh nghiệp đã từng bước đưa sản phẩm từ nguồn nguyên liệu Việt Nam tiếp cận thị trường ngoài nước. Tiềm năng mở rộng thị trường quốc tế Việc người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sản phẩm có nguồn gốc thực vật, nguyên liệu tự nhiên và sản phẩm chế biến từ nông sản đang tạo thêm cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đối với các sản phẩm từ trái nhàu, lợi thế của Phong Thảo nằm ở việc doanh nghiệp chủ động xây dựng vùng nguyên liệu, đầu tư nhà máy chế biến và phát triển nhiều dạng sản phẩm khác nhau. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp tiếp tục nghiên cứu các yêu cầu về tiêu chuẩn sản phẩm, bao bì, quy cách đóng gói và hồ sơ xuất khẩu nhằm mở rộng hợp tác với các đối tác quốc tế. Trong đó, thị trường Trung Quốc với quy mô tiêu dùng lớn và nhu cầu đa dạng đối với nông sản, thực phẩm và các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên có thể trở thành một hướng hợp tác tiềm năng đối với các doanh nghiệp Việt Nam có năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường. Hướng tới nâng cao giá trị trái nhàu Việt Nam Từ một nguồn nguyên liệu bản địa, Phong Thảo đang từng bước xây dựng hệ thống sản xuất và chế biến nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Sự kết hợp giữa vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến, công nghệ sản xuất và phát triển thương hiệu là nền tảng để doanh nghiệp tiếp tục hoàn thiện chuỗi giá trị của trái nhàu, đồng thời tìm kiếm thêm cơ hội hợp tác trong nước và quốc tế. Với định hướng phát triển nông nghiệp sạch và chế biến sâu, Nhà máy Phong Thảo (KJS) là một trong những mô hình doanh nghiệp Việt Nam đang nỗ lực đưa nguyên liệu nông nghiệp và dược liệu bản địa trở thành các sản phẩm thương mại có giá trị, góp phần mở rộng thị trường cho nông sản Việt Nam.
Đọc thêm0

Trường Lộc Group – Kiến tạo giá trị từ yến sào Việt Nam, hướng tới thị trường quốc tế

04/09/2026
Từ nguồn nguyên liệu yến sào tại khu vực Nam Trung Bộ, Trường Lộc Group đang từng bước xây dựng hệ sinh thái sản phẩm yến đa dạng, chú trọng chất lượng và trải nghiệm người tiêu dùng, đồng thời mở rộng định hướng phát triển thị trường trong và ngoài nước. Trong xu hướng người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các sản phẩm thực phẩm bổ dưỡng, có nguồn gốc tự nhiên và giá trị chăm sóc sức khỏe, yến sào đang trở thành một trong những nhóm sản phẩm có tiềm năng phát triển mạnh tại Việt Nam cũng như các thị trường châu Á. Nắm bắt xu hướng này, Trường Lộc Group định hướng phát triển các sản phẩm từ yến thiên nhiên theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu bền vững. Từ nguồn yến thiên nhiên đến hệ sinh thái sản phẩm đa dạng Theo thông tin giới thiệu trên website doanh nghiệp, Trường Lộc Group tập trung cung cấp các dòng sản phẩm yến sào với nhiều phân khúc và hình thức sử dụng khác nhau. Danh mục sản phẩm hiện gồm tổ yến thô, yến tinh chế, yến ăn liền, chân yến tinh chế và yến hũ chưng sẵn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phát triển các dòng sản phẩm quà tặng, trong đó nổi bật là các bộ sản phẩm yến phục vụ nhu cầu biếu tặng. Việc phát triển nhiều dòng sản phẩm giúp Trường Lộc Group tiếp cận đa dạng nhóm khách hàng, từ người tiêu dùng sử dụng yến thường xuyên đến khách hàng tìm kiếm các sản phẩm chăm sóc sức khỏe hoặc quà tặng có giá trị. Chú trọng chất lượng và nguồn nguyên liệu Một trong những yếu tố được Trường Lộc Group nhấn mạnh trong hoạt động kinh doanh là nguồn nguyên liệu và chất lượng sản phẩm. Doanh nghiệp giới thiệu các sản phẩm yến được lựa chọn từ những nguồn nguyên liệu có giấy tờ, chứng từ rõ ràng; đồng thời nhấn mạnh định hướng cung cấp các sản phẩm yến thiên nhiên với tiêu chí không sử dụng chất tẩy trắng, chất bảo quản và phụ gia trong các sản phẩm được giới thiệu trên website. Đối với một số dòng yến hũ chưng sẵn, doanh nghiệp kết hợp yến sào với các nguyên liệu như đường phèn, táo đỏ, hạt sen, hạt chia, saffron, nhân sâm… nhằm tạo ra nhiều lựa chọn phù hợp với nhu cầu sử dụng khác nhau. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với xu hướng phát triển các sản phẩm yến tiện lợi, đáp ứng nhu cầu sử dụng nhanh nhưng vẫn hướng tới giá trị dinh dưỡng của yến sào. Đa dạng hóa thương hiệu, mở rộng thị trường Trường Lộc Group hiện phát triển nhiều thương hiệu trong hệ thống như Nguyệt Anh Yến, Ngân Đình Yến và Phúc Yến, cùng hệ thống sản phẩm được phân chia theo từng nhóm nhu cầu. Song song với phát triển sản phẩm, doanh nghiệp cũng xây dựng các kênh bán hàng và tiếp cận người tiêu dùng trên nhiều nền tảng, bao gồm hệ thống cửa hàng, website, Shopee, TikTok và các kênh truyền thông của Trường Lộc Group. Đây là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp từng bước mở rộng độ nhận diện thương hiệu, phát triển hệ thống phân phối và tiếp cận các nhóm khách hàng mới. Hướng tới nâng cao giá trị sản phẩm yến Việt Nam Yến sào là một trong những sản phẩm có lợi thế của Việt Nam khi gắn với nguồn nguyên liệu tự nhiên, giá trị dinh dưỡng và văn hóa sử dụng lâu đời tại các quốc gia châu Á. Trong bối cảnh nhu cầu đối với các sản phẩm thực phẩm bổ dưỡng và quà tặng cao cấp ngày càng tăng, việc đầu tư vào chất lượng nguyên liệu, công nghệ chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và xây dựng thương hiệu sẽ là những yếu tố quan trọng để các doanh nghiệp yến Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh. Với định hướng phát triển hệ thống sản phẩm từ yến thiên nhiên, Trường Lộc Group đang từng bước hoàn thiện hệ sinh thái sản phẩm và kênh phân phối, tạo nền tảng cho việc mở rộng thị trường trong tương lai. Đặc biệt, với lợi thế về nguồn nguyên liệu yến tại khu vực Nam Trung Bộ và hệ thống sản phẩm ngày càng đa dạng, Trường Lộc Group có tiềm năng phát triển các hoạt động hợp tác thương mại, phân phối và xúc tiến xuất khẩu, trong đó các thị trường châu Á là những thị trường có nhiều dư địa. Cơ hội kết nối thương mại Việt Nam – Trung Quốc Trung Quốc là thị trường lớn với nhu cầu đa dạng đối với các sản phẩm thực phẩm, sản phẩm chăm sóc sức khỏe và quà tặng cao cấp. Tuy nhiên, để tiếp cận hiệu quả thị trường này, doanh nghiệp Việt Nam cần đồng thời đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, đăng ký sản phẩm và xây dựng hệ thống phân phối phù hợp. Đối với Trường Lộc Group, việc từng bước chuẩn hóa sản phẩm và xây dựng thương hiệu có thể tạo nền tảng để doanh nghiệp mở rộng hoạt động hợp tác với các đối tác quốc tế, đặc biệt là các nhà nhập khẩu, nhà phân phối và hệ thống bán lẻ tại Trung Quốc. Trong định hướng thúc đẩy giao thương Việt Nam – Trung Quốc, IMEX NEWS kỳ vọng sẽ trở thành cầu nối hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam có sản phẩm chất lượng tiếp cận đối tác quốc tế, mở rộng kênh phân phối và từng bước nâng cao giá trị thương hiệu trên thị trường khu vực. Với định hướng phát triển từ sản phẩm yến thiên nhiên đến hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, Trường Lộc Group đang có những bước đi nhằm xây dựng thương hiệu yến Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững hơn. IMEX NEWS sẽ tiếp tục đồng hành, giới thiệu những doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu, góp phần kết nối doanh nghiệp Việt với các đối tác, nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối quốc tế.
Đọc thêm0

Nhật Hồng – Gìn giữ hương vị chanh muối cổ truyền

04/09/2026
Từ những quả chanh chín vàng được tuyển chọn, kết hợp cùng muối và phương pháp chế biến truyền thống, Nhật Hồng phát triển dòng Chanh Muối Cổ Truyền mang đậm dấu ấn của cách làm thủ công Việt Nam. Sản phẩm hướng tới việc lưu giữ hương vị tự nhiên, đồng thời mở ra cơ hội đưa một sản phẩm truyền thống của Việt Nam đến với thị trường quốc tế. Chanh muối – một nét quen thuộc trong ẩm thực Việt Chanh muối từ lâu đã là một sản phẩm quen thuộc trong đời sống người Việt. Không chỉ gắn với những cách sử dụng truyền thống trong gia đình, chanh muối còn được nhiều người yêu thích bởi hương vị đặc trưng kết hợp giữa vị chua của chanh và vị mặn của muối, tạo nên một sản phẩm có nét riêng so với nhiều dòng thực phẩm chế biến từ trái cây khác. Với định hướng phát triển sản phẩm truyền thống, Nhật Hồng lựa chọn phương pháp chế biến thủ công để tạo nên Chanh Muối Cổ Truyền, chú trọng vào từng công đoạn từ lựa chọn nguyên liệu, sơ chế đến quá trình ngâm ủ. Kiên trì với phương pháp chế biến truyền thống Điểm đáng chú ý của sản phẩm Chanh Muối Cổ Truyền Nhật Hồng nằm ở thời gian chế biến tương đối dài. Những quả chanh được lựa chọn, làm sạch và sơ chế trước khi tiến hành các công đoạn xử lý và phơi khô. Sau đó, chanh được xếp vào hũ thủy tinh, kết hợp với nước muối đã qua xử lý và tiếp tục ủ trong thời gian từ 6–8 tháng. Quá trình ủ kéo dài giúp chanh có thời gian chuyển hóa về hương vị, tạo nên đặc trưng riêng của sản phẩm. Đây cũng là nét khác biệt của phương pháp làm chanh muối truyền thống so với những sản phẩm chế biến nhanh trên thị trường. Từ sản phẩm thủ công đến cơ hội phát triển thị trường Nhật Hồng hiện sản xuất Chanh Muối Cổ Truyền tại Đà Nẵng, với quy mô sản xuất phù hợp với mô hình sản phẩm thủ công. Việc duy trì phương pháp chế biến truyền thống giúp sản phẩm giữ được câu chuyện riêng về nguồn gốc và cách làm – yếu tố ngày càng được người tiêu dùng quan tâm khi lựa chọn các sản phẩm đặc sản và thực phẩm truyền thống. Bên cạnh thị trường trong nước, Chanh Muối Cổ Truyền cũng được định hướng phát triển thị trường xuất khẩu, trong đó có thị trường Trung Quốc. Sản phẩm được chuẩn bị hồ sơ phục vụ đăng ký mã GACC để hướng tới hoạt động xuất khẩu chính ngạch. Đối với các nhà nhập khẩu và đối tác phân phối, những sản phẩm truyền thống như chanh muối có thể mở ra một hướng tiếp cận mới đối với nhóm thực phẩm có nguồn gốc từ trái cây Việt Nam – đặc biệt khi kết hợp với câu chuyện về phương pháp chế biến thủ công và bản sắc địa phương. Nhật Hồng – phát triển sản phẩm truyền thống theo hướng hiện đại Với sản phẩm chủ lực Chanh Muối Cổ Truyền, Nhật Hồng đang từng bước hoàn thiện hoạt động sản xuất và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa sản phẩm tiếp cận rộng hơn với thị trường. Sự kết hợp giữa giá trị truyền thống, phương pháp chế biến thủ công và định hướng phát triển thị trường quốc tế là nền tảng để Nhật Hồng tiếp tục xây dựng thương hiệu và mở rộng cơ hội hợp tác với các đối tác trong lĩnh vực phân phối, xuất nhập khẩu thực phẩm.
Đọc thêm0

Sâm Nữ Hoàng – Tinh hoa dược liệu Việt, kiến tạo giá trị sức khỏe

28/08/2026
Từ định hướng phát triển vùng nguyên liệu, nghiên cứu giống đến chế biến và thương mại hóa sản phẩm, Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Sâm Nữ Hoàng đang từng bước xây dựng chuỗi giá trị khép kín cho một dòng dược liệu Việt Nam mới. Với hệ sinh thái sản phẩm ngày càng đa dạng và định hướng mở rộng thị trường, doanh nghiệp đang tìm kiếm thêm các đối tác phân phối, nhập khẩu và phát triển thị trường quốc tế. Phát triển một hướng đi mới cho dược liệu Việt Nam Trong những năm gần đây, cùng với xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, ngành dược liệu Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều hướng phát triển mới, trong đó có việc nghiên cứu, nuôi trồng và thương mại hóa các giống cây dược liệu có giá trị. Sâm Nữ Hoàng là một trong những hướng đi mà Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Sâm Nữ Hoàng đang tập trung phát triển. Sâm Nữ Hoàng được định hướng trở thành một dòng dược liệu có giá trị kinh tế và khả năng ứng dụng trong nhiều nhóm sản phẩm khác nhau, từ thực phẩm và đồ uống đến các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp và chăm sóc cá nhân. Thay vì chỉ phát triển sản phẩm ở dạng nguyên liệu, doanh nghiệp lựa chọn hướng đi sâu hơn là xây dựng chuỗi giá trị từ vùng trồng – nguyên liệu – khai thác – chế biến – phát triển sản phẩm – phân phối. Đây được xem là nền tảng để Sâm Nữ Hoàng từng bước nâng cao giá trị của nguồn dược liệu Việt Nam và tạo ra những sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường hiện đại. Bắt đầu từ vùng trồng và nguồn nguyên liệu Đối với một doanh nghiệp phát triển sản phẩm dược liệu, chất lượng nguyên liệu đầu vào có vai trò đặc biệt quan trọng. Sâm Nữ Hoàng xác định việc phát triển vùng trồng, nghiên cứu giống và lựa chọn khu vực có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Công ty đang định hướng phát triển vùng trồng Sâm Nữ Hoàng tại khu vực miền Trung, đồng thời từng bước chuẩn hóa kỹ thuật canh tác và quản lý nguồn nguyên liệu. Mô hình này hướng tới việc kiểm soát tốt hơn nguồn nguyên liệu từ giai đoạn đầu, tạo cơ sở cho quá trình chế biến và phát triển sản phẩm sau đó. Đây cũng là yếu tố có ý nghĩa đối với quá trình mở rộng thị trường quốc tế, khi các nhà nhập khẩu ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, tính ổn định và khả năng truy xuất của nguyên liệu. Xây dựng chuỗi sản xuất khép kín Một trong những định hướng nổi bật của Sâm Nữ Hoàng Việt Nam là xây dựng hệ sinh thái sản xuất và thương mại theo chuỗi. Doanh nghiệp tập trung kết nối các khâu nuôi trồng, khai thác, chế biến và phân phối, thay vì chỉ hoạt động ở một công đoạn riêng lẻ. Việc xây dựng chuỗi khép kín giúp doanh nghiệp có điều kiện chủ động hơn trong việc phát triển sản phẩm, kiểm soát chất lượng và xây dựng thương hiệu. Theo thông tin trên website doanh nghiệp, Sâm Nữ Hoàng đặt trọng tâm vào các yếu tố như nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất, an toàn sản phẩm, nguồn gốc rõ ràng và nghiên cứu phát triển. Đây cũng là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển ngành dược liệu hiện nay, khi giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở nguyên liệu ban đầu mà còn phụ thuộc vào khả năng chế biến, tiêu chuẩn hóa và thương mại hóa. Từ nguyên liệu đến hệ sinh thái sản phẩm Một điểm đáng chú ý trong chiến lược của Sâm Nữ Hoàng là phát triển nhiều dạng sản phẩm từ cùng một nguồn nguyên liệu. Hiện website doanh nghiệp giới thiệu các nhóm sản phẩm như trà Sâm Nữ Hoàng, trà Sâm Nữ Hoàng cao cấp, cao Sâm Nữ Hoàng, cao Sâm Nữ Hoàng Premium, kẹo Sâm Nữ Hoàng, cùng một số sản phẩm chăm sóc sắc đẹp và chăm sóc cá nhân. Trà Sâm Nữ Hoàng Trà Sâm Nữ Hoàng được phát triển dưới dạng trà thảo dược tiện dụng, sử dụng lá Sâm Nữ Hoàng kết hợp với các nguyên liệu phù hợp. Theo thông tin công bố trên website, sản phẩm được kiểm nghiệm về chất lượng, vi sinh và kim loại nặng; một dòng trà được sản xuất tại cơ sở đạt chứng nhận ISO 22000:2018. Việc phát triển sản phẩm dạng trà giúp nguyên liệu Sâm Nữ Hoàng tiếp cận nhóm khách hàng rộng hơn và phù hợp với các kênh bán lẻ, quà tặng cũng như thương mại điện tử. Cao Sâm Nữ Hoàng Cao Sâm Nữ Hoàng được phát triển theo dạng cao cô đặc từ lá Sâm Nữ Hoàng, hướng tới phân khúc sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn so với nguyên liệu thô. Đây cũng là một trong những dạng sản phẩm có tiềm năng phát triển tại các thị trường quốc tế, đặc biệt khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến những sản phẩm dược liệu tiện dụng và có nguồn gốc rõ ràng. Kẹo Sâm Nữ Hoàng Kẹo Sâm Nữ Hoàng là hướng phát triển sản phẩm theo hình thức tiện lợi, phù hợp với xu hướng đưa nguyên liệu dược liệu vào các sản phẩm tiêu dùng hiện đại. Nhóm sản phẩm chăm sóc sắc đẹp Bên cạnh nhóm sản phẩm thực phẩm và đồ uống, doanh nghiệp còn phát triển các sản phẩm chăm sóc da như Melas Clear và Shield Sunscreen, qua đó mở rộng hệ sinh thái thương hiệu sang lĩnh vực chăm sóc sắc đẹp. Website cũng giới thiệu Dầu gội Thảo Dược Sâm Nữ Hoàng, cho thấy định hướng mở rộng ứng dụng nguyên liệu Sâm Nữ Hoàng sang nhóm sản phẩm chăm sóc cá nhân. Chú trọng chất lượng và nguồn gốc sản phẩm Trong quá trình xây dựng thương hiệu, Sâm Nữ Hoàng xác định chất lượng sản phẩm và nguồn gốc nguyên liệu là những yếu tố quan trọng. Doanh nghiệp định hướng kiểm soát nguyên liệu từ vùng trồng, đồng thời chú trọng kiểm soát trong quá trình chế biến và phát triển sản phẩm. Một số sản phẩm hiện đã có hồ sơ kiểm nghiệm liên quan đến chất lượng, vi sinh và kim loại nặng. Đối với trà Sâm Nữ Hoàng, doanh nghiệp công bố kết quả kiểm nghiệm cho thấy không phát hiện một số nhóm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các chỉ tiêu kim loại nặng được kiểm soát trong giới hạn an toàn. Đối với hoạt động xuất khẩu, đây là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp tiếp tục hoàn thiện hồ sơ sản phẩm theo yêu cầu của từng thị trường. Từ thị trường Việt Nam hướng tới quốc tế Sâm Nữ Hoàng Việt Nam không chỉ tập trung xây dựng thị trường trong nước mà đang từng bước mở rộng mạng lưới phân phối và hoạt động xúc tiến thương mại. Theo các thông tin được doanh nghiệp đăng tải, Sâm Nữ Hoàng đã tham gia các chương trình kết nối giao thương, các hoạt động xúc tiến thương mại và sự kiện kết nối doanh nghiệp, qua đó mở rộng quan hệ với các đối tác và từng bước đưa sản phẩm tiếp cận thị trường quốc tế. Doanh nghiệp cũng đã triển khai mở rộng hệ thống phân phối tại Việt Nam, trong đó có việc phát triển tổng kho và các điểm phân phối tại các thị trường trọng điểm. Những hoạt động này cho thấy định hướng của doanh nghiệp không chỉ dừng ở việc phát triển sản phẩm mà còn hướng tới xây dựng hệ thống thương mại và phân phối dài hạn. Cơ hội tại thị trường Trung Quốc Với vị trí địa lý gần gũi, hoạt động thương mại Việt Nam – Trung Quốc ngày càng phát triển và nhu cầu đối với các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, dược liệu và sản phẩm chăm sóc sức khỏe tiếp tục tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Sâm Nữ Hoàng Việt Nam đang hướng tới việc tìm kiếm các đối tác quốc tế, trong đó có nhà nhập khẩu, nhà phân phối và doanh nghiệp thương mại Trung Quốc. Danh mục sản phẩm đa dạng cho phép doanh nghiệp có thể tiếp cận nhiều phân khúc khác nhau, từ trà và sản phẩm tiện dụng hàng ngày đến các dòng cao sâm và sản phẩm quà tặng. Đối với thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp có thể trao đổi với các đối tác về nhiều hướng hợp tác, bao gồm: Nhập khẩu và phân phối sản phẩm; Đại lý và phân phối theo khu vực; Hợp tác phát triển thị trường; Phân phối độc quyền theo thỏa thuận; Phát triển sản phẩm phù hợp với thị trường Trung Quốc; Hợp tác thương mại và phát triển thương hiệu dài hạn. Tiềm năng hợp tác với các nhà nhập khẩu Trung Quốc Đối với các nhà nhập khẩu, một trong những điểm đáng chú ý của Sâm Nữ Hoàng là doanh nghiệp không chỉ cung cấp một sản phẩm duy nhất mà đang xây dựng một hệ sinh thái sản phẩm xoay quanh nguồn dược liệu Sâm Nữ Hoàng. Điều này tạo điều kiện để đối tác lựa chọn sản phẩm phù hợp với từng kênh phân phối và nhóm khách hàng. Nhà nhập khẩu có thể lựa chọn nhóm trà và sản phẩm tiêu dùng để tiếp cận thị trường đại chúng; trong khi cao sâm, sản phẩm cao cấp hoặc các bộ quà tặng có thể hướng tới phân khúc khách hàng có mức chi tiêu cao hơn. Trong giai đoạn tiếp theo, việc nghiên cứu nhu cầu của thị trường Trung Quốc và điều chỉnh quy cách, bao bì, sản phẩm cũng có thể mở ra thêm những hướng hợp tác giữa doanh nghiệp và các đối tác địa phương. Hướng tới xây dựng thương hiệu dược liệu Việt Nam Sâm Nữ Hoàng Việt Nam xác định mục tiêu dài hạn không chỉ là phát triển một dòng sản phẩm mà hướng tới xây dựng một thương hiệu dược liệu Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Từ vùng trồng, nghiên cứu giống và nguồn nguyên liệu, đến chế biến, phát triển sản phẩm và xây dựng hệ thống phân phối, doanh nghiệp đang từng bước hoàn thiện chuỗi giá trị. Định hướng này đồng thời gắn với mục tiêu phát triển bền vững vùng nguyên liệu và tạo thêm sinh kế cho cộng đồng địa phương, qua đó đưa hoạt động phát triển dược liệu trở thành một chuỗi giá trị có tính lâu dài. Trong hành trình đó, việc tìm kiếm những đối tác có năng lực nhập khẩu, phân phối và phát triển thị trường tại Trung Quốc sẽ là một bước quan trọng để Sâm Nữ Hoàng mở rộng thị trường quốc tế. Mời nhà nhập khẩu và nhà phân phối Trung Quốc hợp tác Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Sâm Nữ Hoàng hiện mong muốn kết nối với các doanh nghiệp Trung Quốc quan tâm đến sản phẩm dược liệu, thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên, sản phẩm chăm sóc sức khỏe và chăm sóc sắc đẹp. Các đối tác có thể trao đổi trực tiếp với doanh nghiệp về: Danh mục sản phẩm; Nguồn nguyên liệu; Quy cách và bao bì; Hồ sơ chất lượng; Kết quả kiểm nghiệm sản phẩm; Năng lực cung ứng; Điều kiện hợp tác xuất khẩu; Chính sách dành cho nhà nhập khẩu và nhà phân phối; Khả năng phát triển sản phẩm phù hợp với thị trường Trung Quốc. Sâm Nữ Hoàng Việt Nam Từ vùng nguyên liệu Việt Nam – phát triển sản phẩm hiện đại – kết nối thị trường quốc tế. Với định hướng xây dựng chuỗi giá trị từ nguyên liệu đến sản phẩm và thị trường, Sâm Nữ Hoàng Việt Nam đang từng bước đưa một dòng dược liệu mới của Việt Nam tiếp cận người tiêu dùng trong nước và quốc tế.
Đọc thêm0
Đọc thêm
popup

Số lượng:

Tổng tiền: