Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS - Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS cung cấp dịch vụ uỷ thác bán hàng Quốc Tế, có cam kết doanh số cho khách hàng. Liên hệ 0982.515.526

22/06/2026

IMEX NEWS và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình ký kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2026–2028: Mở rộng đầu ra cho sản phẩm OCOP, thúc đẩy đầu tư và xuất khẩu sang Trung Quốc

    Ngày 18/6/2026, tại trụ sở Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình, Công ty TNHH IMEX NEWS và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình đã tổ chức buổi làm việc, trao đổi định hướng hợp tác và chính thức ký kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2026–2028. Đây là dấu mốc quan trọng mở đầu cho mô hình hợp tác giữa một đơn vị xúc tiến thương mại chuyên sâu với tổ chức đại diện cho khu vực kinh tế tập thể, hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ và thu hút đầu tư cho các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.        Buổi làm việc diễn ra trong không khí cởi mở, thẳng thắn và mang tính xây dựng với sự tham dự của lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình, đại diện các phòng chuyên môn cùng Ban lãnh đạo và đội ngũ chuyên gia của IMEX NEWS. Hướng tới mục tiêu giải quyết đầu ra cho sản phẩm hợp tác xã       Trong bối cảnh nhiều hợp tác xã đã từng bước nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và xây dựng thành công các sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng của địa phương, vấn đề lớn nhất hiện nay không còn là "làm ra sản phẩm" mà là "bán được sản phẩm một cách bền vững". Hai bên thống nhất nhận định, để kinh tế tập thể phát triển hiệu quả trong giai đoạn mới, cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ sản xuất sang tư duy phát triển thị trường, xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sản xuất – chế biến – tiêu thụ – xuất khẩu. Xuất phát từ thực tiễn đó, Chương trình phối hợp giữa IMEX NEWS và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình được xây dựng với trọng tâm là kết nối đầu ra cho sản phẩm của các hợp tác xã, đồng thời hỗ trợ thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế. Hợp tác toàn diện từ xúc tiến thương mại đến xúc tiến đầu tư         Theo nội dung Chương trình phối hợp giai đoạn 2026–2028, hai bên sẽ tập trung triển khai nhiều hoạt động thiết thực nhằm hỗ trợ các hợp tác xã thành viên.          Trong lĩnh vực xúc tiến thương mại, IMEX NEWS sẽ phối hợp cùng Liên minh Hợp tác xã tỉnh tổ chức các đoàn khảo sát thị trường Trung Quốc, tạo điều kiện để các hợp tác xã tiếp cận trực tiếp hệ thống phân phối, doanh nghiệp nhập khẩu, trung tâm logistics, sàn thương mại điện tử, chuỗi bán lẻ và các mô hình tiêu thụ hiện đại. Đây không chỉ là hoạt động tham quan học tập mà hướng tới mục tiêu giúp các hợp tác xã hiểu rõ yêu cầu của thị trường, tiêu chuẩn hàng hóa và phương thức xây dựng kênh tiêu thụ ổn định. Song song với đó, các sản phẩm OCOP, sản phẩm chủ lực và đặc sản của tỉnh Ninh Bình sẽ được IMEX NEWS hỗ trợ quảng bá trên hệ sinh thái truyền thông song ngữ Việt – Trung, kết nối với các đối tác nhập khẩu và từng bước đưa vào Trung tâm Lựa chọn sản phẩm và Cung ứng hàng hóa Việt Nam tại Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc) để giới thiệu, lựa chọn và kết nối giao dịch.       Một nội dung được hai bên đặc biệt quan tâm là xúc tiến đầu tư. Thông qua mạng lưới đối tác tại Trung Quốc, IMEX NEWS sẽ phối hợp tìm kiếm các doanh nghiệp và nhà đầu tư có nhu cầu hợp tác với các hợp tác xã của tỉnh trong các lĩnh vực như phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư nhà máy chế biến nông sản, chuyển giao công nghệ, đầu tư dây chuyền sản xuất, kho lạnh, logistics, bao bì, bảo quản sau thu hoạch và thương mại điện tử xuyên biên giới. Đây được xem là hướng đi mới, góp phần giúp các hợp tác xã không chỉ mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn nâng cao năng lực sản xuất, gia tăng giá trị sản phẩm và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế. Khảo sát thực tế thay cho những hội thảo hình thức Một điểm nổi bật trong chương trình hợp tác là ưu tiên các hoạt động khảo sát thực tiễn. Thay vì tập trung vào các hội nghị, hội thảo mang tính lý thuyết, IMEX NEWS sẽ phối hợp xây dựng các chương trình khảo sát chuyên đề tại Trung Quốc theo từng nhóm ngành hàng và nhu cầu của các hợp tác xã. Các đoàn công tác sẽ trực tiếp làm việc với doanh nghiệp nhập khẩu, khảo sát trung tâm logistics, kho ngoại quan, hệ thống phân phối, chợ đầu mối, doanh nghiệp chế biến, cơ sở ứng dụng công nghệ cao, các nền tảng thương mại điện tử và livestream bán hàng. Thông qua các chuyến khảo sát này, các hợp tác xã có điều kiện tiếp cận trực tiếp thị trường, đánh giá nhu cầu tiêu dùng, học tập mô hình phát triển, đồng thời tìm kiếm đối tác phù hợp để xây dựng đầu ra lâu dài cho sản phẩm. Thí điểm tại Ninh Bình để nhân rộng trên toàn quốc        Phát biểu tại buổi làm việc, đại diện IMEX NEWS cho biết việc lựa chọn Ninh Bình là địa phương đầu tiên triển khai mô hình hợp tác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ninh Bình là địa phương có nhiều sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, làng nghề truyền thống và các hợp tác xã hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, nhu cầu mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng và thu hút đầu tư vẫn còn rất lớn. Việc triển khai thành công mô hình phối hợp giữa IMEX NEWS và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình sẽ tạo cơ sở thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện quy trình, xây dựng các mô hình hỗ trợ phù hợp và từng bước nhân rộng tới các Liên minh Hợp tác xã trên phạm vi cả nước. Đại diện Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình đánh giá cao những định hướng hợp tác mà IMEX NEWS đề xuất, đặc biệt là cách tiếp cận lấy hiệu quả thực chất làm trung tâm, tập trung giải quyết nhu cầu về thị trường, đầu tư và tiêu thụ sản phẩm của các hợp tác xã. Hướng tới hệ sinh thái hỗ trợ hợp tác xã phát triển bền vững          Theo Chương trình phối hợp đã ký kết, trong giai đoạn 2026–2028, hai bên sẽ xây dựng kế hoạch phối hợp hằng năm, thường xuyên đánh giá kết quả thực hiện và điều chỉnh nội dung phù hợp với nhu cầu thực tiễn của các hợp tác xã. IMEX NEWS chịu trách nhiệm xây dựng các chương trình khảo sát thị trường, kết nối tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến đầu tư, quảng bá sản phẩm OCOP và phối hợp tổ chức các hoạt động kết nối thực tế cho các hợp tác xã của tỉnh. Với phương châm "Kết nối thực chất – Đồng hành dài hạn – Hiệu quả bền vững", IMEX NEWS kỳ vọng sẽ cùng Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho các hợp tác xã, từ xúc tiến thương mại, kết nối đầu tư, chuyển giao công nghệ đến phát triển thị trường xuất khẩu.       Lễ ký kết Chương trình phối hợp không chỉ mở ra cơ hội hợp tác giữa hai đơn vị mà còn thể hiện quyết tâm chung trong việc đồng hành cùng các hợp tác xã nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển kinh tế tập thể theo hướng hiện đại, hội nhập và bền vững, góp phần đưa các sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng của Ninh Bình từng bước khẳng định vị thế trên thị trường Trung Quốc và quốc tế.  
Xem thêm

Tin tức

Hơn 4 nghìn tấn nông sản xuất khẩu qua các cửa khẩu Lạng Sơn ngày 29/6

Ngày 29/6/2026, tổng số phương tiện chở hàng xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn đạt 1.666 xe, tổng trọng lượng nông sản xuất khẩu đạt khoảng 4.244 tấn.   Theo thông tin của Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn, trong ngày 29/6/2026, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại các cửa khẩu, đường chuyên dụng, lối thông quan trên địa bàn diễn ra bình thường, không có yếu tố đột biến, bất thường. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại các cửa khẩu, đường chuyên dụng, lối thông quan trên địa bàn Lạng Sơn diễn ra bình thường. Ảnh: Trần Khoa Tổng số phương tiện chở hàng xuất nhập khẩu đạt 1.666 xe; trong đó, xuất khẩu 518 xe, nhập khẩu 1.148 xe. Tổng trọng lượng nông sản xuất khẩu trong ngày khoảng 4.244 tấn, nhập khẩu khoảng 4.249 tấn. Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 29/6/2026, tổng số phương tiện đạt 311.404 xe, trong đó xuất khẩu 84.379 xe, nhập khẩu 227.025 xe. Trong ngày có 168 xe ô tô mới nhập khẩu, lũy kế đạt 26.344 xe, hiện còn tồn 602 xe mới tại các cửa khẩu. Theo Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn, lưu lượng hàng hóa chủ yếu ở khu vực cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, số lượng phương tiện chở hàng xuất, nhập khẩu là 906 xe, hàng nông sản xuất khẩu chiếm phần lớn. Tại khu vực cửa khẩu Tân Thanh - Pò Chài đạt 491 xe. Các khu vực khác như cửa khẩu Cốc Nam và cửa khẩu chính Chi Ma duy trì lưu lượng ổn định, lần lượt đạt 91 xe và 108 xe. Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn đánh giá, trong ngày, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại các cửa khẩu trên địa bàn diễn ra ổn định, đáp ứng yêu cầu thông quan hàng hóa. Tổng lưu lượng phương tiện thông quan và lượng xe mới nhập khẩu trong ngày có xu hướng biến động tăng mạnh trở lại. Mặt hàng nông sản, đặc biệt là trái cây nhiệt đới vẫn là điểm sáng xuất khẩu khi tổng trọng lượng khoảng 4.244 tấn; áp lực phương tiện từ nội địa lên vẫn ở mức cao, tuy nhiên lượng xe hàng tồn đọng tại bến bãi lại giảm so với ngày trước đó.
Xem thêm

Định hình không gian thể chế mở cho Khu thương mại tự do Đà Nẵng

Khu thương mại tự do Đà Nẵng cần bứt phá khỏi lối mòn ưu đãi thuế cũ để kiến tạo một không gian thể chế số, xanh và tích hợp, kết nối mạnh mẽ chuỗi giá trị toàn cầu.   Chuyển từ tư duy ưu đãi thuế sang thể chế số đa tầng Tại Hội thảo Khu thương mại tự do (FTZ) Đà Nẵng và kết nối đầu tư 2026 do Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng tổ chức chiều 13/6 tại TP. Đà Nẵng, ThS. KTS Nguyễn Thu Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Kiến trúc sư Việt Nam cho rằng, cần phải xây dựng FTZ Đà Nẵng như là một không gian kinh tế mở thế hệ mới với cấu trúc đa tầng và đa phương thức. Các chuyên gia, diễn giả thảo luận các xu hướng phát triển FTZ thế hệ mới trên thế giới và cơ hội của Đà Nẵng trong việc hình thành một không gian kinh tế mở, có khả năng kết nối sâu với chuỗi cung ứng toàn cầu Không gian thể chế và chính sách bao gồm tầm nhìn phát triển, tính thử nghiệm của các chính sách, việc áp dụng các cơ chế mới, xây dựng chiến lược thu hút đầu tư thông minh... và đặc biệt là tạo được sự đồng thuận của các nhà đầu tư. “Quan trọng hơn, chúng ta cần nhanh chóng ứng dụng nền kinh tế số để thúc đẩy các động lực phát triển mới, thay vì chỉ dựa vào các thủ tục hành chính hoặc những ưu đãi truyền thống”, ThS. KTS Nguyễn Thu Phong nhận định. Đồng quan điểm, theo TS. Hồ Thị Thu Hòa, Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam, cần thay đổi tư duy định vị FTZ từ góc độ ưu đãi thuế sang một không gian thể chế đặc thù, nơi triển khai các cơ chế thử nghiệm đột phá. TS. Hồ Thị Thu Hòa cũng khẳng định các công nghệ số sẽ “nối liền” và xóa đi rời rạc về địa lý của 7 phân khu chức năng trong FTZ Đà Nẵng. “Những lo ngại về việc bảy phân khu tách biệt về mặt vật lý có thể được giải quyết thông qua môi trường số, hải quan số và dòng dữ liệu số. Đặc biệt, với sự hỗ trợ của các công nghệ mới như AI, IoT, Big Data... chúng ta hoàn toàn có thể bảo đảm dòng thông tin và dữ liệu được liên thông”, TS. Hồ Thị Thu Hòa nói. Từ góc nhìn quốc tế, theo ông Sun Lin, đại diện 58 Group (Trung Quốc) cũng đúc kết bài học cho thấy lộ trình cốt lõi của các FTZ thành công là chuyển từ lợi thế chính sách sang lợi thế thể chế và đổi mới sáng tạo. Ông khuyến nghị Đà Nẵng cần xây dựng cơ chế một cửa tích hợp tất cả thủ tục trên cùng một nền tảng số và đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào vận hành. TP. Đà Nẵng đã tìm được nhà đầu tư hạ tầng trong Khu thương mại tự do Đà Nẵng ở các vị trí số 2, số 3, số 4, số 5. Trong ảnh: Trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư các dự án hạ tầng FTZ Đà Nẵng ở các vị trí số 2, số 3 và số 4 ngày 13/6 Kiến tạo hệ sinh thái xanh gắn kết chuỗi giá trị toàn cầu Theo các chuyên gia, một không gian thể chế mở chỉ thực sự phát huy tối đa giá trị khi được đặt trong một hệ sinh thái tích hợp và hướng tới xu thế phát triển bền vững. TS. Hồ Thị Thu Hòa chỉ ra rằng, động lực lớn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược hiện nay là xu hướng tăng trưởng xanh. FTZ Đà Nẵng cần phát đi thông điệp mạnh mẽ về định hướng xanh và bền vững, tập trung phát triển các dịch vụ logistics giá trị gia tăng cao. Đồng thời, bà Hòa đề xuất mô hình "nhà đầu tư mỏ neo" (anchor investor), những tập đoàn lớn có khả năng dẫn dắt hệ sinh thái, kết nối chuỗi cung ứng và thu hút các doanh nghiệp vệ tinh quốc tế. Bổ sung cho luận điểm này, KTS Nguyễn Thu Phong đề xuất ý niệm tiếp cận dựa trên các dòng chảy chủ đạo gồm dòng chảy giá trị, dòng chảy tri thức và dòng chảy số. FTZ Đà Nẵng phải là nơi hội tụ để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao nhất trên quỹ đất hạn hẹp, thu hút con người tinh hoa và gắn liền với vành đai quản lý xanh (Green Economy). Sự chồng lớp của các chức năng không gian từ cảng biển, công nghệ tương lai đến thương mại quốc tế, sẽ biến FTZ Đà Nẵng từ một khu sản xuất khô cứng thành một hệ sinh thái kinh tế mở năng động trong liên kết vùng. Còn chuyên gia đến từ Trung Quốc, ông Sun Lin khuyến nghị Đà Nẵng nên thúc đẩy mạnh mẽ hệ thống vận tải đa phương thức để kết nối đường bộ, đường sắt, hàng không, đường biển và xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp đầu chuỗi nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng khu vực châu Á - Thái Bình Dương. FTZ Đà Nẵng vị trí số 1 đang được nghiên cứu triển khai đồng bộ với Cảng Liên Chiểu, cảng biển nước sâu chiến lược của quốc gia. Trong ảnh: Khởi công dự án Bến cảng Container Liên Chiểu hồi cuối tháng 4/2026 Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng cho biết, Khu thương mại tự do Đà Nẵng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bức tranh phát triển chung của toàn thành phố. Đây không chỉ là một khu vực phát triển kinh tế, mà là không gian thể chế mới, động lực tăng trưởng mới và là cửa ngõ kết nối Đà Nẵng với các chuỗi sản xuất, thương mại và logistics toàn cầu. Theo lãnh đạo TP. Đà Nẵng, sau một năm kể từ ngày thành lập, Khu thương mại tự do Đà Nẵng đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Những kết quả này cho thấy chủ trương xây dựng Khu thương mại tự do Đà Nẵng là đúng hướng, khả thi và đang từng bước đi vào thực tiễn. “Thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện hạ tầng chiến lược, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, vận hành; đồng thời nghiên cứu mở rộng không gian Khu thương mại tự do về phía Nam để phát huy tối đa lợi thế của thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất”, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng thông tin. Cam kết đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, lãnh đạo TP. Đà Nẵng mong muốn tiếp tục đón nhận những nhà đầu tư có năng lực, có tầm nhìn dài hạn, cùng chung khát vọng xây dựng Khu thương mại tự do Đà Nẵng trở thành hình mẫu phát triển mới của Việt Nam. Khu thương mại tự do Đà Nẵng cần bứt phá khỏi tư duy ưu đãi thuế cũ để kiến tạo một không gian thể chế mở thế hệ mới. Bằng cách ứng dụng công nghệ số kết nối đa tầng giữa các phân khu và xây dựng hệ sinh thái xanh tích hợp, thành phố sẽ thu hút hiệu quả các nhà đầu tư mỏ neo, tối ưu hóa chuỗi cung ứng toàn cầu và tạo động lực tăng trưởng đột phá.
Xem thêm

Giá lúa gạo hôm nay ngày 30/6/2026: Lúa tươi giảm nhẹ

Giá lúa gạo hôm nay ngày 30/6/2026 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long biến động nhẹ; gạo xuất khẩu trong nước tăng và thị trường xuất khẩu gạo châu Á đứng giá.   Giá lúa gạo hôm nay, ghi nhận trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 480-484 USD/tấn, trong khi đó, gạo 100% tấm dao động từ 412-416 USD/tấn. Trong khi đó, tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 350-354 USD/tấn, còn gạo 100% tấm chào bán 280-284 USD/tấn. Giá lúa gạo hôm nay ngày 30/6/2026: Lúa tươi tiếp đà giảm nhẹ. Ảnh: Thanh Minh. Thị trường lúa gạo châu Á và thế giới vẫn chịu tác động từ giá năng lượng và chi phí logistics ở mức cao, gây áp lực cung - cầu, khiến hoạt động giao dịch diễn ra thận trọng. Tại thị trường trong nước, giá lúa gạo hôm nay 30/6/2026 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long biến động nhẹ, giao dịch mua bán trầm lắng. Trong đó với mặt hàng gạo, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, hiện gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 10.750 - 10.090 đồng/kg, so với đầu tuần. Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.800 - 8.050 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.00 - 8.100 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg, so với đầu tuần. Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thị trường giao dịch yếu, giá gạo ít biến động. Tại An Giang, giao dịch mua bán vẫn chậm, giá gạo các loại bình ổn. Tại khu vực Lấp Vò (Đồng Tháp), gạo vụ mới về lượng ít, gạo xô có xu hướng nhích nhẹ, giá các khác ít biến động. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán ít, kho chợ mua chậm, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại các chợ lẻ, giá gạo bình giá so với cuối tuần trước. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 14.500 – 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg, gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg. Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, hiện giá lúa tươi IR 50404 giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.200 - 6.300 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.400 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg, so với đầu tuần. Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán chậm, giá lúa biến động nhẹ. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, một số loại giá lúa tươi giảm nhẹ. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh giá lúa tươi các loại ít biến động. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang so với đầu tuần trước. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 508-512  USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 495-450 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 347-351 USD/tấn. Bảng giá lúa gạo hôm nay ngày 30/6/2026 Bảng giá mang tính tham khảo.
Xem thêm

Thủ tục hải quan sẽ chuyển hoàn toàn lên môi trường điện tử

Điểm nổi bật của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan là hướng tới xóa bỏ các thủ tục, hồ sơ giấy, thay vào đó là thực hiện thủ tục hải quan trên môi trường điện tử.   Bám sát những chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang được Bộ Tài chính soạn thảo và xin ý kiến chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp dự kiến sẽ sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 42 điều và bổ sung 4 điều mới. Để làm rõ những điểm mới của Luật Hải quan sửa đổi, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Minh Thảo - Phó trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) bên lề hội thảo “Lấy ý kiến doanh nghiệp về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan” do VCCI phối hợp cùng Bộ Tài chính tổ chức mới đây. - Thưa bà, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang được Bộ Tài chính xin ý kiến được đặt trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và tạo thuận lợi thương mại. Bà đánh giá như thế nào về định hướng sửa đổi này? Bà Nguyễn Minh Thảo: Có thể thấy, dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này đã thể hiện khá rõ những chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước trong thời gian gần đây, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và tạo thuận lợi hơn cho môi trường kinh doanh. Điểm nổi bật là dự thảo hướng tới xóa bỏ các thủ tục, hồ sơ giấy, thay vào đó là thực hiện thủ tục hải quan hoàn toàn trên môi trường điện tử. Đây là bước đi rất quan trọng, phù hợp với xu hướng quản lý hiện đại, đồng thời giúp doanh nghiệp thực hiện thủ tục thuận lợi hơn, minh bạch hơn và giảm chi phí tuân thủ. Bên cạnh đó, dự thảo cũng đề cập đến mô hình hải quan tập trung. Theo tôi, đây là nội dung đáng chú ý, bởi việc tích hợp, chuyên môn hóa các thủ tục hải quan sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện thủ tục, đồng thời hỗ trợ cơ quan hải quan địa phương nâng cao hiệu quả xử lý công việc. Ngoài ra, Luật Hải quan sửa đổi cũng hướng đến quá trình cải cách thủ tục hành chính đó là tiếp tục nâng cấp Cơ chế một cửa quốc gia, tăng cường liên thông và thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử cũng cho thấy định hướng cải cách rất rõ. Khi hồ sơ giấy không còn là phương thức chủ đạo, hệ thống công nghệ thông tin, năng lực phục vụ và sự ổn định của hệ thống hải quan cần được nâng cấp tương ứng. Đây vừa là áp lực, vừa là động lực để ngành hải quan nâng cấp hệ thống, hiện đại hóa mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực thi. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang được Bộ Tài chính soạn thảo và xin ý kiến chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp. Ảnh minh họa Hài hòa giữa quản lý và thúc đẩy đổi mới - Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này bổ sung nhiều nội dung mới, trong đó có quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua thương mại điện tử và mô hình quản lý tuân thủ. Theo bà, đâu là những vấn đề cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện? Bà Nguyễn Minh Thảo: Trong phạm vi sửa đổi lần này, dự thảo Luật Hải quan đề cập khá nhiều nội dung mới, trong đó có 4 điều được bổ sung thêm, vì vậy cần tiếp tục được nghiên cứu, rà soát kỹ để bảo đảm tính khả thi khi đi vào cuộc sống. Một trong những nội dung cần quan tâm là quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu được mua bán trên nền tảng thương mại điện tử. Đây là yêu cầu cấp thiết cần phải có sự quản lý và đảm bảo tính công bằng, minh bạch, cạnh tranh trong hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, khi xây dựng quy định, cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước để có cách tiếp cận phù hợp. Nhằm mục tiêu là quản lý tốt hơn, nhưng không làm hạn chế những xu hướng phát triển mới, không cản trở các mô hình kinh doanh, mua bán qua sàn thương mại điện tử. Nói cách khác, chính sách cần vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo và các mô hình phát triển phù hợp với xu thế của thế giới. Bên cạnh đó, mô hình quản lý tuân thủ cũng là nội dung cần được hoàn thiện thêm. Về nguyên tắc, doanh nghiệp đều phải tuân thủ pháp luật, nhưng để mô hình này phát huy hiệu quả, cần có tiêu chí rõ ràng, hướng dẫn cụ thể và cơ chế khuyến khích phù hợp. Khi doanh nghiệp thấy rõ lợi ích của việc tuân thủ tốt, họ sẽ có thêm động lực để thực hiện thủ tục chuyên nghiệp hơn, minh bạch hơn. Đây cũng có thể là cơ sở để mở rộng các nhóm doanh nghiệp được hưởng cơ chế thuận lợi, tương tự như doanh nghiệp ưu tiên. - Từ góc nhìn chính sách và cộng đồng doanh nghiệp, bà kỳ vọng Luật Hải quan sửa đổi khi được ban hành sẽ tạo chuyển biến như thế nào trong thực tiễn? Bà Nguyễn Minh Thảo: Với bất kỳ văn bản pháp luật nào, cộng đồng doanh nghiệp và người dân đều mong muốn khi ban hành sẽ đi vào cuộc sống một cách hiệu quả. Luật không chỉ phải đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, mà còn cần giảm chi phí tuân thủ, giảm gánh nặng thủ tục cho người dân và doanh nghiệp. Đối với dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này, kỳ vọng lớn nhất là các thủ tục sẽ được đơn giản hóa hơn, thực hiện nhiều hơn trên môi trường điện tử, từ đó giảm thời gian, chi phí và những vướng mắc phát sinh trong quá trình làm thủ tục hải quan. Khi thủ tục hành chính được cải cách, điều kiện thực hiện được đơn giản hóa, hệ thống hải quan vận hành ổn định, minh bạch hơn, doanh nghiệp sẽ có thêm niềm tin và động lực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động xuất nhập khẩu, một lĩnh vực có vai trò rất lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế. Tôi cho rằng, nếu được hoàn thiện tốt và triển khai hiệu quả, Luật Hải quan sửa đổi sẽ không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập ngày càng sâu rộng. - Xin cảm ơn bà! Ông Nguyễn Thành Hưng - Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính): Dự thảo Luật Hải quan lần này dự kiến sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 42 điều và bổ sung 4 điều mới. Đây là bước đi pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa và thể chế hóa các nghị quyết lớn của Bộ Chính trị, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây d
Xem thêm

Tăng sức cạnh tranh logistics để hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu

Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam đề xuất nhiều giải pháp nhằm giảm chi phí, nâng năng lực logistics, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 2 con số.   Logistics phải trở thành lợi thế cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam Logistics ngày nay không còn đơn thuần là một ngành dịch vụ hỗ trợ mà đã trở thành "mạch máu" của nền kinh tế, giữ vai trò quyết định đối với năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, các rào cản thương mại ngày càng gia tăng, việc nâng cao năng lực của ngành logistics được xem là một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số. Phát biểu tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số do Bộ Công Thương tổ chức mới đây, ông Trần Tiến Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) cho rằng, để đa dạng hóa chuỗi cung ứng, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam, cần tập trung triển khai đồng bộ bốn nhóm giải pháp trọng tâm. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics nhằm góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 2 con số. Ảnh: Cấn Dũng Theo ông Trần Tiến Dũng, trước hết, doanh nghiệp cần chủ động phổ biến, cập nhật và thực hiện nghiêm các quy định, tiêu chuẩn của các thị trường xuất khẩu lớn; đồng thời thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm (RBC), đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về môi trường, phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc. Để hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng với các tiêu chuẩn mới, VLA kiến nghị Chính phủ xây dựng các cơ chế tín dụng xanh nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp logistics, chuyển đổi phương tiện vận tải, đầu tư kho bãi sử dụng năng lượng tái tạo và phát triển hệ thống logistics lạnh đạt tiêu chuẩn. Giải pháp thứ hai được Hiệp hội đề xuất là xây dựng các chuỗi cung ứng chuyên biệt cho nhóm hàng nông sản và thủy sản tươi sống. Theo ông Trần Tiến Dũng, để tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA), công tác bảo quản, vận chuyển và đóng gói hàng hóa giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Hiệp hội đang khuyến khích các doanh nghiệp hội viên đạt chứng nhận doanh nghiệp ưu tiên nhằm rút ngắn thời gian thông quan, đồng thời phát triển các giải pháp logistics đồng bộ, tối ưu hóa chuỗi lạnh để duy trì chất lượng nông sản, thủy sản và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường châu Âu. Bên cạnh đó, Hiệp hội cũng xác định chuyển đổi số là động lực quan trọng để phát triển logistics trong giai đoạn mới. Theo đó, VLA mong muốn thúc đẩy các nền tảng số kết nối trực tiếp giữa nhà xuất khẩu với đơn vị vận tải, bảo đảm tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng. Việc hình thành các trung tâm hoàn tất đơn hàng tại các thị trường trọng điểm sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu trực tiếp, rút ngắn thời gian giao hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ở nhóm giải pháp thứ tư, ông Trần Tiến Dũng đề xuất kéo giảm chi phí logistics thông qua tối ưu hóa vận tải đa phương thức. Theo đó, cần tăng cường kết nối vận tải thủy nội địa với hệ thống cảng biển nước sâu, đồng thời phát triển các trung tâm logistics vùng gắn với khu công nghiệp để tối ưu hóa vận tải hai chiều, giảm tình trạng phương tiện quay đầu không có hàng. Phát triển đội tàu quốc gia để nâng cao năng lực logistics Bên cạnh các giải pháp trước mắt, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam cũng dành nhiều thời gian phân tích những hạn chế về hạ tầng logistics và năng lực vận tải của Việt Nam. Theo ông Trần Tiến Dũng, các doanh nghiệp hội viên đã nghiên cứu và kiến nghị Bộ Xây dựng nâng cấp hạ tầng giao thông đường thủy nội địa, trong đó có việc thiết kế các loại tàu phù hợp với điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, việc khai thác vận tải đường thủy trong khu vực còn gặp nhiều khó khăn do tĩnh không của nhiều cây cầu, đặc biệt là cầu Chợ Mới, chưa đáp ứng yêu cầu khai thác tàu trọng tải lớn. Vì vậy, phương tiện lớn nhất hiện chỉ có thể khai thác ở chiều dài khoảng 240m với tải trọng khoảng 3.000 tấn. Theo đề xuất của Hiệp hội, nếu nghiên cứu nâng chiều dài và tổng dung tích tàu lên khoảng 500 - 600m phù hợp với điều kiện luồng tuyến, khả năng khai thác vận tải thủy sẽ được cải thiện đáng kể. Ông Trần Tiến Dũng cho biết, giải pháp này không chỉ giúp giảm chi phí vận chuyển trên mỗi đơn vị hàng hóa mà còn rút ngắn thời gian vận chuyển từ Đồng bằng sông Cửu Long đến các cảng nước sâu tại TP. Hồ Chí Minh và khu vực Cái Mép. Ông phân tích, hiện nay tàu vận chuyển bằng đường thủy thường phải chờ thủy triều và phụ thuộc vào tĩnh không của các cây cầu, khiến thời gian vận chuyển kéo dài từ 30 - 40 giờ, thậm chí có hành trình lên tới 72 giờ. Đây là rào cản khiến nhiều lô hàng có giá trị cao vẫn phải lựa chọn vận tải đường bộ với chi phí lớn hơn. Nếu các giải pháp về hạ tầng được triển khai, không chỉ chi phí logistics được cắt giảm mà còn góp phần giảm phát thải carbon, hướng tới phát triển logistics xanh. Một vấn đề khác được đại diện VLA đặc biệt quan tâm là sự biến động rất lớn của cước vận tải quốc tế. Theo ông Trần Tiến Dũng, mặc dù doanh nghiệp logistics Việt Nam đã nỗ lực giảm chi phí trong nước, song phần doanh thu mà doanh nghiệp trong nước được hưởng trong tổng chi phí logistics lại không lớn. Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu thực hiện các dịch vụ lưu kho, vận chuyển nội địa và một số dịch vụ phụ trợ, trong khi chi phí vận tải quốc tế chiếm tỷ trọng lớn và liên tục biến động ngoài khả năng kiểm soát. Ông dẫn chứng, theo thông tin được nêu tại hội nghị, chỉ trong thời gian ngắn, cước vận tải quốc tế trên một số tuyến đã tăng từ khoảng 5.000 - 6.000 USD/container lên tới 7.900 USD/container. Trước thời điểm xảy ra xung đột giữa Israel và Iran, mức cước trên cùng tuyến chỉ dưới 3.000 USD/container. Khi cước vận tải quốc tế ở mức thấp, phần giá trị dịch vụ do doanh nghiệp logistics Việt Nam thực hiện có thể chiếm khoảng 50% tổng chi phí logistics. Tuy nhiên, khi cước vận tải tăng lên 7.000 - 8.000 USD/container thì tỷ trọng doanh thu của doanh nghiệp trong nước chỉ còn khoảng 30%. Theo đại diện VLA, với quy mô xuất nhập khẩu của Việt Nam đã vượt 900 tỷ USD, việc nâng cao năng lực logistics quốc gia là yêu cầu cấp thiết để giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa. Phát triển đội tàu quốc gia là bài toán đã được đặt ra nhiều năm nhưng đến nay vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam mới chỉ khai thác được một số tuyến ngắn từ Hải Phòng đi phía Nam Trung Quốc và một số thị trường lân cận. Vì vậy, tỷ trọng hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đội tàu mang cờ Việt Nam vẫn ở mức thấp. Từ thực tế đó, VLA kiến nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư phát triển đội tàu quốc gia, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trực tiếp tổ chức khai thác các tuyến vận tải quốc tế thay vì chủ yếu cho các hãng tàu nước ngoài thuê lại tàu. Dẫn kinh nghiệm từ Hàn Quốc, ông Trần Tiến Dũng cho biết, trong khoảng 20 năm qua, khi các hãng tàu mở các tuyến vận tải quốc tế mới, Chính phủ Hàn Quốc đều có chính sách hỗ trợ về nguồn vốn và ưu tiên phát triển các tuyến vận tải. Theo ông, đây là kinh nghiệm Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo để từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của đội tàu quốc gia. "Bên cạnh nhiệm vụ phục vụ thị trường nội địa, các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam cũng cần được tạo điều kiện để vươn ra thị trường quốc tế, mở các tuyến vận tải mới và từng bước nâng cao vị thế của đội tàu quốc gia", ông Trần Tiến Dũng nhấn mạnh.
Xem thêm

Giá vàng hôm nay (30/6): Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay (30/6) trên thế giới sụt giảm, đối diện tháng thứ tư liên tiếp thị trường toàn cầu chìm sâu trong sắc đỏ.   Giá vàng hôm nay trên thế giới Theo Kitco, giá vàng thế giới ghi nhận lúc 4h30 hôm nay theo giờ Việt Nam giao ngay ở mức 4,020 USD/ounce. Giá vàng hôm nay giảm 1,47%% so với hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (26.449 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 128 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 20 triệu đồng/lượng. Diễn biến giá vàng thế giới trong 24h qua. Giá vàng thế giới đã gặp nhiều khó khăn trong những tháng gần đây khi cuộc xung đột tại Iran gây ảnh hưởng đáng kể đến thị trường năng lượng toàn cầu, đẩy giá dầu tăng cao và làm dấy lên lo ngại về lạm phát. Những lo ngại đó đang nhanh chóng trở thành hiện thực sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chuyển từ lập trường nới lỏng sang cứng rắn hơn, phát tín hiệu ủng hộ khả năng tăng lãi suất vào cuối năm nay. Đồng thời, các nhà phân tích lưu ý rằng hoạt động kinh tế vẫn duy trì khả năng chống chịu bất chấp cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu, qua đó tạo thêm đTrên thực tế, dù vàng luôn được coi là hầm trú ẩn an toàn và công cụ phòng vệ hữu hiệu chống lại lạm phát, song sức hấp dẫn của kim loại quý này đang bị lu mờ đáng kể trong một môi trường lãi suất cao do đặc tính không mang lại lợi suất. Hiện tại, công cụ FedWatch của CME cho thấy thị trường đang định giá khả năng Fed sẽ có 3 đợt tăng lãi suất trong năm nay, với xác suất thắt chặt vào tháng 9 lên tới khoảng 61%. Trong ngắn hạn, dòng tiền đang có xu hướng đứng ngoài quan sát để chờ đợi dữ liệu việc làm ADP tháng 6 và đặc biệt là báo cáo bảng lương phi nông nghiệp (Non-farm) của Mỹ. Đưa ra dự báo về xu hướng giá, chuyên gia Evangelista nhấn mạnh: "Một báo cáo việc làm phi nông nghiệp mạnh hơn kỳ vọng được công bố vào cuối tuần này sẽ là cơ sở vững chắc để Fed hành động "diều hâu" hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho một đợt trượt giá sâu, đẩy vàng rớt mốc hỗ trợ quan trọng 4.000 USD/ounce. Giá vàng trong nước hôm nay Giá vàng miếng SJC sáng 30/6 mở đầu tuần mới với xu hướng điều chỉnh giảm sau nhịp tăng mạnh cuối tuần trước. Khảo sát sáng 30/6 cho thấy hầu hết các thương hiệu lớn đồng loạt hạ từ 300.000 - 500.000 đồng/lượng, riêng Mi Hồng giảm mạnh hơn ở chiều bán ra. Tại SJC, giá vàng miếng được niêm yết ở 145,0 - 148,0 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước. Mức chênh lệch mua - bán tiếp tục duy trì 3 triệu đồng/lượng. DOJI và PNJ cũng điều chỉnh giảm đồng loạt 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về 145,0 - 148,0 triệu đồng/lượng, bám sát mặt bằng chung của thị trường. Tại Bảo Tín Mạnh Hải, giá vàng miếng lùi về 145,0 - 148,0 triệu đồng/lượng, giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch. Bảo Tín Minh Châu có mức điều chỉnh nhẹ hơn ở chiều mua vào khi giảm 300.000 đồng/lượng xuống 144,0 triệu đồng/lượng, trong khi chiều bán giảm 500.000 đồng/lượng còn 148,0 triệu đồng/lượng. Đây cũng là doanh nghiệp có biên độ mua - bán cao nhất, lên tới 4 triệu đồng/lượng. Tại Phú Quý, giá vàng miếng giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện giao dịch tại 144,8 - 148,0 triệu đồng/lượng. Riêng Mi Hồng ghi nhận mức giảm mạnh nhất thị trường. Giá mua vào giảm 700.000 đồng/lượng xuống 145,3 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng, còn 146,8 triệu đồng/lượng. Vàng miếng Sáng 29/6 Sáng 30/6 Chênh lệch Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Triệu đồng/lượng Triệu đồng/lượng Nghìn đồng/lượng SJC 145,5 148,5 145,0 148,0 -500 -500 Bảo Tín Mạnh Hải 145,5 148,5 145,0 148,0 -500 -500 PNJ 145,5 148,5 145,0 148,0 -500 -500 Bảo Tín Minh Châu 144,3 148,5 144,0 148,0 -300 -500 DOJI 145,5 148,5 145,0 148,0 -500 -500 Phú Quý SJC 145,3 148,5 144,8 148,0 -500 -500 Mi Hồng 146,0 148,0 145,3 146,8 -700 -1200 Bảng giá vàng miếng trong nước cập nhật sáng ngày 30/6 Giá vàng hôm nay ngày 30/6/2026. Ảnh: C. D Về giá vàng nhẫn cũng giảm theo diễn biến của vàng miếng nhưng vẫn duy trì vùng giá cao. Mặt bằng bán ra phổ biến dao động 147,5 - 148,0 triệu đồng/lượng. Tại SJC, vàng nhẫn 9999 được niêm yết ở 145,0 - 148,0 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. DOJI tiếp tục giao dịch vàng nhẫn Hưng Thịnh Vượng ở 145,0 - 148,0 triệu đồng/lượng, cùng giảm 500.000 đồng/lượng so với phiên trước. Bảo Tín Mạnh Hải cũng điều chỉnh giá vàng nhẫn xuống 145,0 - 148,0 triệu đồng/lượng, giữ mức bán ra ngang với SJC và DOJI. Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu niêm yết vàng nhẫn tròn trơn ở 144,0 - 147,5 triệu đồng/lượng, thấp hơn nhóm dẫn đầu khoảng 500.000 đồng/lượng ở chiều bán ra. Tại Phú Quý, vàng nhẫn tròn trơn 999,9 hiện giao dịch ở 144,5 - 147,5 triệu đồng/lượng, cũng thấp hơn nhóm SJC, DOJI và Bảo Tín Mạnh Hải. Vàng nhẫn Sáng 29/6 Sáng 30/6 Chênh lệch Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Triệu đồng/lượng Triệu đồng/lượng Nghìn đồng/lượng SJC 145,5 148,5 145,0 148,0 -500 -500 Bảo Tín Mạnh Hải 145,5 148,5 145,0 148,0 -500 -500 DOJI 145,5 148,5 145,0 148,0 -500 -500 Bảo Tín Minh Châu 144,3 148,0 144,0 147,5 -300 -500 Phú Quý 145,0 148,0 144,5 147,5 -500 -500 Bảng giá vàng nhẫn trong nước cập nhật sáng ngày 30/6
Xem thêm

Thương vụ phát huy vai trò cảnh báo sớm cho doanh nghiệp

Không chỉ cung cấp thông tin, thương vụ còn đóng vai trò như một “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp nhận diện các rủi ro tiềm ẩn trong thương mại quốc tế.   Thương mại tăng trưởng nhưng biến động mạnh Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng biến động khó lường, vai trò của hệ thống thương vụ Việt Nam tại nước ngoài đang chuyển dịch mạnh mẽ, từ “cầu nối xúc tiến thương mại, đầu tư” sang “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro và chủ động thích ứng. Thị trường Philippines là một ví dụ điển hình cho xu hướng này. Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Phú Cường - Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Philippines cho biết, trong hai tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đạt 1,29 tỷ USD, giảm nhẹ 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đạt 880,7 triệu USD, tăng 3,9%, trong khi nhập khẩu từ Philippines giảm mạnh 9,3%, xuống còn 409,6 triệu USD. Nhờ đó, cán cân thương mại tiếp tục nghiêng về phía Việt Nam với mức thặng dư 471,1 triệu USD, tăng 19,1%. Thương vụ Việt Nam tại Philippines kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở gian hàng trưng bày, quảng bá sản phẩm tại các hội chợ, triển lãm tại Philippines. Ảnh: Thành Văn Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là sự biến động đáng chú ý trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu. Các nhóm mặt hàng xuất khẩu ghi nhận xu hướng “phân hóa mạnh” với nhiều ngành tăng trưởng cao nhưng cũng không ít lĩnh vực suy giảm sâu. Dẫn chứng cụ thể, thương vụ cho biết, gạo tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng đến 9,9% sau khi Philippines dỡ bỏ lệnh tạm dừng nhập khẩu từ cuối năm 2025, chiếm tới 35,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này. Sự phục hồi này không chỉ giúp Việt Nam giữ vững thị phần mà còn gia tăng lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ. Ngược lại, xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực sang thị trường Philippines lại sụt giảm đáng kể. Clanhke và xi măng giảm tới 59,2% do tác động của biện pháp tự vệ từ nước này. Điện thoại và linh kiện giảm 5,7%. Các nhóm hàng tiêu dùng như cà phê, giày dép, dệt may lần lượt giảm 23,9%, 9,2% và 32,4%. Tham tán thương mại Lê Phú Cường cho rằng, những con số này cho thấy một thực tế rõ ràng, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường Philippines với hơn 115 triệu dân và thị trường có cơ cấu dân số trẻ và sức tiêu dùng lớn. Ở chiều nhập khẩu, cơ cấu cũng có sự dịch chuyển đáng kể. Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm tỷ trọng lớn nhất (65,8%) nhưng chỉ tăng nhẹ 6,4%. Trong khi đó, các mặt hàng như phế liệu sắt thép và chất dẻo nguyên liệu lại tăng đột biến từ 6 - 7 lần, phản ánh nhu cầu nguyên liệu đầu vào trong nước đang thay đổi nhanh chóng. Theo đánh giá của thương vụ, những biến động trên không đơn thuần là điều chỉnh cung - cầu, mà phản ánh tác động đa chiều từ bối cảnh kinh tế khu vực và toàn cầu. Xung đột tại Trung Đông từ cuối tháng 2/2026 đã đẩy giá dầu lên mức 120 - 130 USD/thùng, khiến chi phí logistics tăng mạnh. Philippines phải duy trì tình trạng khẩn cấp năng lượng, kéo theo chi phí nhập khẩu tăng và trực tiếp làm giảm biên lợi nhuận của hàng hóa Việt Nam. Bên cạnh đó, khả năng Ngân hàng Trung ương Philippines tăng lãi suất để bảo vệ đồng Peso sẽ khiến tiêu dùng nội địa bị thắt chặt. Đây là yếu tố bất lợi đối với các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, đồ gỗ. Đối với mặt hàng gạo, trụ cột xuất khẩu trong ngắn hạn cũng đối mặt thách thức. Philippines dự kiến hạn chế nhập khẩu trong tháng 3 và 4 xuống còn 150 nghìn tấn/tháng, thay vì khoảng 400 nghìn tấn trước đó, do bước vào vụ thu hoạch nội địa. Đáng chú ý, việc Philippines sử dụng công cụ cấp phép Thông quan nhập khẩu kiểm dịch động thực vật - SPSIC (Sanitary and Phytosanitary Import Clearance) như một biện pháp kiểm soát định lượng cho thấy xu hướng điều hành nhập khẩu ngày càng chặt chẽ hơn. Những diễn biến này cho thấy thị trường Philippines đang chuyển từ “dễ đoán” sang “biến động có điều kiện”, nơi tăng trưởng luôn đi kèm với rủi ro chính sách và chi phí. Từ xúc tiến đến “cảnh báo sớm” Trước những diễn biến phức tạp tại thị trường Philippines, ông Lê Phú Cường cho rằng, vai trò của thương vụ không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xử lý các vụ việc pháp lý, làm việc với các cơ quan chức năng sở tại và tìm kiếm giải pháp phù hợp. Việc cảnh báo sớm các nguy cơ điều tra phòng vệ thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh hoạt động sản xuất và xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro. Thực tế, những cảnh báo về việc Philippines siết nhập khẩu gạo theo mùa vụ, áp trần giá gạo lên tới 50 peso/kg, nguy cơ tăng lãi suất hay chi phí logistics leo thang… đã giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro về tồn kho, chậm dòng tiền hay đàm phán bất lợi. Không dừng lại ở đó, vừa qua, Bộ Thương mại và Công nghiệp Philippines đã khởi xướng điều tra tự vệ đối với sản phẩm gạch men nhập khẩu (mã HS 690722 và 690723). Đây là mặt hàng từng nhiều lần bị điều tra trong quá khứ. Việc nhận diện sớm giúp doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị hồ sơ, điều chỉnh chiến lược hoặc đa dạng hóa thị trường, thay vì bị động khi vụ việc leo thang. Không chỉ cung cấp thông tin, thương vụ đóng vai trò như một “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp giảm rủi ro trong thương mại quốc tế. Không chỉ thị trường Philippines gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại, ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng cho biết, nước này là thị trường có số lượng vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam lớn nhất. Vì vậy, nhiệm vụ nhận diện rủi ro, cảnh báo sớm hỗ trợ rất lớn cho doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp chủ động điều tiết kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15 - 16% và GDP tăng trưởng hai con số. Hiện thực hóa các mục tiêu trên, hệ thống hơn 60 thương vụ Việt Nam tại nước ngoài đang được xác định là lực lượng “tiền tuyến”. Không chỉ là kênh xúc tiến, thương vụ đang chuyển sang cung cấp thông tin chuyên sâu, có phân tích và dự báo, giúp doanh nghiệp xây dựng “bản đồ rủi ro” khi tiếp cận thị trường quốc tế. Nhìn từ thị trường Philippines, một thực tế đang dần rõ nét, rủi ro không còn là yếu tố bất ngờ, mà đã trở thành “trạng thái bình thường mới” của thương mại quốc tế. Trong bối cảnh đó, lợi thế không thuộc về doanh nghiệp đi nhanh nhất, mà thuộc về doanh nghiệp nhìn thấy rủi ro sớm nhất và phản ứng kịp thời nhất. Ở tuyến đầu của quá trình đó, hệ thống thương vụ chính là “tai mắt thị trường”, không chỉ mở đường, mà còn cảnh báo để doanh nghiệp đi đúng hướng, đi chắc và đi xa. Trong hai tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 155,7 tỷ USD, tăng 22,2%. Đà tăng trưởng này đặt ra yêu cầu mới cho doanh nghiệp nước nhà, không chỉ mở rộng quy mô mà còn nâng cao chất lượng và khả năng thích ứng với biến động thị trường quốc tế. Ở góc độ doanh nghiệp, việc tận dụng hiệu quả thông tin từ thương vụ sẽ quyết định khả năng trụ vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Xem thêm

Việt Nam và Cuba thúc đẩy quan hệ hợp tác đặc biệt trong bối cảnh mới

Từ ngày 20-22/6, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thăm Cuba với tư cách Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.   Theo phóng viên TTXVN tại La Habana, từ ngày 20-22/6, đồng chí Lê Hoài Trung - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thăm Cộng hòa Cuba với tư cách Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, thông báo với Đảng Cộng sản Cuba về kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và trao đổi về tình hình hợp tác giữa hai Đảng, hai nước. Trong khuôn khổ chuyến thăm, đồng chí Lê Hoài Trung đã có các cuộc hội kiến Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel, Thủ tướng Manuel Marrero Cruz, hội đàm với Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bruno Rodriguez Parrilla và thông báo kết quả Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam vào sáng 22/6 tại Hội nghị do Trung ương Đảng Cộng sản Cuba tổ chức, với sự chủ trì của Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba Miguel Diaz-Canel và sự tham dự của đông đảo các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Lê Hoài Trung trân trọng chuyển thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Đại tướng Raul Castro Ruz và Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Cuba Diaz-Canel, chuyển lời thăm hỏi của các đồng chí Lãnh đạo cấp cao của Việt Nam tới các đồng chí lãnh đạo Cuba; khẳng định sự quan tâm sâu sắc và lập trường nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tăng cường đoàn kết, ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân Cuba, quyết tâm đồng hành, cùng Cuba thúc đẩy hợp tác anh em vì sự phát triển của mỗi nước, hòa bình, ổn định trên thế giới. Trên cơ sở văn kiện Đại hội XIV, các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội XIV và Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, đồng chí Lê Hoài Trung đã thông tin toàn diện về các vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam và các bài học kinh nghiệm rút ra. Chia sẻ những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội và tình hình tổng thể thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí cũng giới thiệu về các mục tiêu, định hướng lớn, các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược được Đại hội XIV thông qua nhằm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phấn đấu thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và 2045. Đồng chí Lê Hoài Trung đồng thời đánh giá cao những biện pháp chuyển đổi toàn diện, đặc biệt là về kinh tế, mà Hội nghị bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba và Quốc hội Cuba vừa thông qua. Bộ trưởng Lê Hoài Trung khẳng định Việt Nam tin tưởng với bản lĩnh cách mạng, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Cuba dưới sự lãnh đạo của đồng chí Raul Castro và Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Diaz-Canel, Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba anh em sẽ vượt qua những khó khăn, thách thức hiện nay, tiếp tục đưa cách mạng Cuba tiến lên, vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Tại các cuộc tiếp, hội đàm với đoàn công tác của Đảng, Nhà nước Việt Nam, các đồng chí Lãnh đạo Cuba bày tỏ vui mừng và trân trọng trước việc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cử Đặc phái viên sang Cuba thông báo về kết quả Đại hội XIV, cho rằng điều đó thể hiện sự tin cậy đặc biệt và quan hệ thắm tình đồng chí, anh em giữa hai Đảng, hai nước, nhân dân nước, là sự kiện rất có ý nghĩa trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực hiện nay. Các đồng chí Lãnh đạo Cuba nhấn mạnh luôn quan tâm và sẽ tiếp tục tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác giữa hai nước phát triển toàn diện trên các lĩnh vực và đạt được những kết quả quan trọng mới, đáp ứng thiết thực lợi ích của nhân dân hai nước. Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tái khẳng định sự đoàn kết Việt Nam - Cuba. (Ảnh: Việt Hùng/TTXVN) Đồng chí Miguel Diaz-Canel và đồng chí Thủ tướng Manuel Marrero Cruz gửi lời thăm hỏi thân tình tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và các đồng chí Lãnh đạo cấp cao Việt Nam; bày tỏ những ấn tượng sâu sắc, tốt đẹp về truyền thống cách mạng, anh hùng, các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; cho rằng những bài học quan trọng cả về lý luận và thực tiễn của Việt Nam qua 40 năm Đổi mới là rất có giá trị để Cuba tham khảo trong quá trình đưa ra các biện pháp chuyển đổi toàn diện vừa qua. Các đồng chí Lãnh đạo Cuba đánh giá cao các kết quả đáng phấn khởi về hợp tác các mặt giữa hai nước thời gian qua, nhất là về nông nghiệp, thuỷ sản, được sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và sự quyết liệt triển khai của các cơ quan liên quan của cả hai bên. Hai bên cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy trao đổi các đoàn cấp cao, hợp tác giữa các cơ quan liên quan. Trong năm 2026 là dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Lãnh tụ Fidel Castro, hai bên cũng thống nhất phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm quan trọng, nhiều ý nghĩa, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh giao lưu nhân dân và thế hệ trẻ hai nước. Hai bên khẳng định cần phát huy vai trò của các cơ chế hợp tác song phương, tiếp tục phối hợp ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết. Trong chuyến công tác, đồng chí Lê Hoài Trung cũng đã đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm Anh hùng dân tộc Cuba José Martí, Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thủ đô La Habana; thăm và nói chuyện với cộng đồng người Việt Nam và Đại sứ quán Việt Nam tại Cuba; thăm các dự án nông nghiệp, lúa gạo, sản xuất nhu yếu phẩm của doanh nghiệp Việt Nam tại Cuba. Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, để lại dấu ấn đậm nét về tình đoàn kết, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai nước và quyết tâm chung trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác đặc biệt giữa hai nước trong thời gian tới.
Xem thêm

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức cao mới vào năm 2026

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê tại Canada tăng trong năm 2023 - Ảnh minh họa: besthomesbc.com Theo báo cáo về triển vọng thị trường nhà ở mới nhất của Tập đoàn Nhà ở và Thế chấp (CMHC) của Canada, giá nhà có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê trên thị trường tăng trong năm 2023, nguồn cung được dự báo không theo kịp nhu cầu, dẫn đến giá thuê cao hơn và tỉ lệ nhà trống thấp hơn trong những năm tới. Chuyên gia kinh tế trưởng Bob Dugan của CMHC cho biết các điều kiện tài chính không thuận lợi sẽ khiến các công ty xây dựng nhà gặp khó khăn hơn, trong việc bắt đầu các dự án cho thuê mới vào năm 2024. Nhưng đến năm 2025-2026, lãi suất sẽ thấp, sự hỗ trợ liên tục của chính phủ và các chính sách khuyến khích mật độ dân số cao ở các trung tâm đô thị sẽ khiến nhiều dự án trở nên khả thi hơn. Theo CMHC, trong ba năm tới, lãi suất thế chấp giảm và tốc độ tăng dân số mạnh nhất của đất nước kể từ những năm 1950 có thể sẽ thúc đẩy doanh số bán và giá nhà phục hồi. Tính đến cuối năm 2023, doanh số bán nhà đã giảm khoảng 1/3 so với mức đỉnh điểm vào đầu năm 2021. Khi lãi suất thế chấp và sự không chắc chắn về kinh tế giảm vào nửa cuối năm 2024, người mua sẽ bắt đầu quay trở lại thị trường. Sự trỗi dậy này cũng sẽ được thúc đẩy bởi sự thay đổi nhu cầu đối với những ngôi nhà và giá thấp hơn trên thị trường khắp Canada. CMHC dự đoán hoạt động bán hàng từ năm 2025 - 2026 sẽ vượt qua mức trung bình 10 năm qua một chút, nhưng vẫn ở dưới mức kỷ lục được ghi nhận từ năm 2020 đến năm 2021, do giá nhà ở vẫn còn đắt đỏ. Số lượng nhà mới xây ở Canada dự kiến sẽ giảm trong năm nay, trước khi phục hồi vào năm 2025 và 2026, phản ánh tác động trễ của lãi suất cao hơn đối với hoạt động xây dựng mới. Một báo cáo tuần trước của cơ quan này cho thấy 137.915 căn hộ mới đã được khởi công xây dựng trong năm 2023 trên sáu thành phố lớn nhất của Canada, gần tương đương với mức của ba năm qua.
Xem thêm

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

Muốn chinh phục Trung Quốc, nông sản phải đi bằng giá trị gia tăng

Thị trường Trung Quốc đang chuyển mạnh sang tiêu dùng chất lượng cao, buộc doanh nghiệp Việt Nam đầu tư chế biến, truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện chuỗi cung ứng. Không thể chỉ bán nhiều hơn Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam, đồng thời là thị trường có ảnh hưởng đáng kể tới định hướng phát triển của ngành hàng này. Tuy nhiên, cùng với quy mô nhập khẩu ngày càng lớn, các yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch trong chuỗi cung ứng cũng ngày càng khắt khe. Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước xuất khẩu chuối lớn nhất thế giới. Ảnh: NNVN Tại Diễn đàn Kết nối thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ I diễn ra ngày 24/6, nhiều chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng giai đoạn tăng trưởng dựa vào sản lượng đang dần khép lại. Để mở rộng thị phần tại thị trường hơn 1,4 tỷ dân, nông sản Việt Nam phải chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị gia tăng. Ngành chuối là ví dụ điển hình cho quá trình chuyển đổi này. Ông Phạm Quốc Liêm, Chủ tịch HĐQT Unifarm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho hay, mỗi năm Trung Quốc nhập khẩu khoảng 1 tỷ USD chuối. Trong khi đó, Việt Nam hiện nằm trong nhóm 10 nước xuất khẩu chuối lớn nhất thế giới với kim ngạch hơn 418 triệu USD và diện tích sản xuất khoảng 161.000 ha. Ngành chuối Việt Nam cũng đang hướng tới mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trong những năm tới. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, việc mở rộng diện tích hay tăng sản lượng là chưa đủ. “Cơ hội không tự tạo ra giá trị. Giá trị chỉ được hình thành khi sản phẩm được xây dựng trên nền tảng khoa học công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và niềm tin của thị trường”, ông Liêm nhấn mạnh. Theo ông, lợi thế của Việt Nam nằm ở điều kiện khí hậu phù hợp, vị trí gần các trung tâm tiêu thụ lớn của châu Á và khả năng phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Song dư địa tăng trưởng chỉ thực sự được khai thác khi toàn bộ chuỗi sản xuất được nâng cấp, từ giống cây trồng, vùng nguyên liệu, canh tác, thu hoạch đến bảo quản và tiêu thụ. Từ thực tiễn của Unifarm, doanh nghiệp đã đầu tư hơn 1.500 ha vùng nguyên liệu, phát triển giống chuối Uni126 có khả năng kháng bệnh Panama tới 95 - 98%, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng nghiêm ngặt trong toàn bộ quy trình sản xuất. Ông Liêm cho rằng, điều quan trọng nhất không phải là sở hữu công nghệ hiện đại mà là duy trì chất lượng ổn định. Đây chính là yếu tố giúp sản phẩm có thể thâm nhập và đứng vững tại các thị trường yêu cầu cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc hay Singapore. Xây dựng chuỗi cung ứng thay vì chỉ xuất khẩu hàng hóa Câu chuyện của ngành chuối phản ánh yêu cầu chung đối với ngành rau quả Việt Nam hiện nay: phải chuyển từ xuất khẩu dựa trên lợi thế nguyên liệu sang xuất khẩu dựa trên giá trị. Sự chuyển dịch này càng trở nên cấp thiết khi Trung Quốc không còn là thị trường tiêu thụ đơn thuần. Tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh chóng cùng sự phát triển của ngành thực phẩm - đồ uống đang làm thay đổi cấu trúc nhu cầu tiêu dùng. Không chỉ cần trái cây tươi, thị trường này đang gia tăng nhập khẩu các sản phẩm có hàm lượng chế biến cao hơn như nước quả cô đặc, nước ép, puree trái cây, rau quả đông lạnh, đồ hộp và nguyên liệu phục vụ công nghiệp thực phẩm. Theo ông Đinh Cao Khuê, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc DOVECO, đây mới là phân khúc có tiềm năng tăng trưởng lớn nhất trong những năm tới. Khác với trái cây tươi phụ thuộc vào mùa vụ và chịu áp lực lớn về thời gian tiêu thụ, các sản phẩm chế biến sâu có khả năng bảo quản lâu hơn, ổn định hơn và mang lại giá trị kinh tế cao hơn. Thực tế khảo sát của DOVECO tại các trung tâm logistics và doanh nghiệp chế biến ở Chiết Giang, Hồ Bắc và Ninh Ba cho thấy nhu cầu của doanh nghiệp Trung Quốc đối với nguyên liệu và sản phẩm chế biến từ trái cây nhiệt đới Việt Nam đang gia tăng đáng kể. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc quan tâm tới các sản phẩm từ dứa, chanh leo, xoài, chuối và các loại rau quả nhiệt đới khác. Đây là những mặt hàng Việt Nam có lợi thế về nguồn cung nguyên liệu nhưng vẫn còn nhiều dư địa để nâng tỷ lệ chế biến. Ông Khuê cho rằng, giai đoạn hợp tác tiếp theo giữa Việt Nam và Trung Quốc không nên chỉ dừng lại ở xuất khẩu nông sản tươi mà cần mở rộng sang liên kết vùng nguyên liệu, đầu tư nhà máy chế biến, phát triển kho lạnh, logistics và hệ thống phân phối. “Khi tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt Nam mới có thể giữ lại phần giá trị lớn hơn thay vì chỉ bán nguyên liệu”, ông Khuê nói. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, nhiều điểm nghẽn vẫn cần được tháo gỡ. Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group cho biết, việc cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói hiện vẫn là một trong những rào cản lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Đây là điều kiện bắt buộc để nông sản được xuất khẩu chính ngạch vào Trung Quốc nhưng quá trình thẩm định và phê duyệt chưa theo kịp nhu cầu mở rộng sản xuất. Theo ông Tùng, sự chậm trễ này không chỉ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp mà còn khiến nhiều cơ hội giao thương bị bỏ lỡ. Do đó, cần đẩy mạnh kiểm tra trực tuyến, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng hai nước và hình thành “luồng xanh” cho các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống dữ liệu số dùng chung để quản lý mã số vùng trồng cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm tăng tính minh bạch và hạn chế tình trạng gian lận. Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), Trung Quốc hiện chiếm khoảng 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Năm 2025, xuất khẩu rau quả đạt 8,56 tỷ USD, trong đó riêng thị trường Trung Quốc đạt khoảng 5,5 tỷ USD. Cùng với việc nhiều nghị định thư xuất khẩu được ký kết thời gian qua, cơ hội cho rau quả Việt Nam vẫn rất lớn. Tuy nhiên, cách thức tiếp cận thị trường đang thay đổi nhanh chóng. Các nền tảng thương mại điện tử, hệ thống bán lẻ hiện đại và mô hình phân phối số đang dần thay thế vai trò của các chợ đầu mối truyền thống. Trong khi đó, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và an toàn thực phẩm ngày càng nghiêm ngặt. Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), ngành rau quả Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển từ tăng trưởng dựa trên sản lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng và phát triển bền vững. Những thành công của sầu riêng hay mít trong thời gian qua cho thấy tiềm năng rất lớn của thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, lợi thế đó sẽ khó duy trì nếu doanh nghiệp tiếp tục phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô. Đối với thị trường Trung Quốc, hướng đi trong thời gian tới không chỉ là mở rộng danh mục sản phẩm được cấp phép xuất khẩu mà còn phải nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu, đẩy mạnh chế biến sâu, hoàn thiện hệ thống logistics và tăng cường ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc. Khi thị trường ngày càng cạnh tranh, giá trị gia tăng sẽ là yếu tố quyết định vị thế của nông sản Việt Nam. Muốn chinh phục thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp không thể chỉ bán nhiều hơn, mà phải bán những sản phẩm có chất lượng cao hơn, minh bạch hơn và đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường. Hiện Việt Nam đã có hơn 20 loại rau quả được phép xuất khẩu chính ngạch vào Trung Quốc. Việc ngày càng nhiều loại nông sản Việt Nam được xuất khẩu chính ngạch sang thị trường này không chỉ mở rộng đầu ra ổn định cho nông dân mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Trung Quốc đối với các sản phẩm nhiệt đới chất lượng cao.
Xem thêm

Ngành cao su tăng tốc đáp ứng EUDR trước thời hạn 1/1/2027

Chỉ còn hơn 6 tháng trước khi EUDR có hiệu lực, ngành cao su đang đẩy nhanh hoàn thiện hướng dẫn tuân thủ, cơ sở dữ liệu và truy xuất nguồn gốc phục vụ xuất khẩu sang EU.   Xây dựng cơ sở dữ liệu, tháo gỡ nút thắt truy xuất nguồn gốc Chiều 29/6, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) và Tổ chức Forest Trends tổ chức Hội thảo tham vấn góp ý dự thảo tài liệu Hướng dẫn tuân thủ Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cho ngành cao su Việt Nam. Hội thảo tham vấn góp ý dự thảo tài liệu Hướng dẫn tuân thủ Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cho ngành cao su Việt Nam. Ảnh: Minh Phúc Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết sau ba năm kể từ khi EU ban hành quy định EUDR, Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động nhằm chuẩn bị thích ứng, từ tuyên truyền, phổ biến quy định đến đào tạo, tập huấn cho doanh nghiệp và địa phương. Theo ông Mạnh, hai ngành hàng chịu tác động lớn nhất trong lĩnh vực trồng trọt là cà phê và cao su. Ngay từ khi EUDR được thông qua vào tháng 5/2023, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã phối hợp với Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cùng nhiều đơn vị liên quan xây dựng các giải pháp thích ứng. “Qua các cuộc làm việc với phía EU, có thể khẳng định EUDR sẽ chính thức được thực thi từ ngày 1/1/2027. Thời gian chuẩn bị không còn nhiều, vì vậy việc hoàn thiện tài liệu hướng dẫn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp và địa phương có căn cứ triển khai thống nhất”, ông Nguyễn Quốc Mạnh nhấn mạnh. Theo ông Mạnh, dự thảo tài liệu đã được gửi lấy ý kiến các chuyên gia và địa phương trước khi đưa ra tham vấn rộng rãi tại hội thảo. Sau khi tiếp thu các góp ý, Cục sẽ tiếp tục hoàn thiện để ban hành chính thức. Trong giai đoạn từ nay đến cuối năm 2026, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật mong muốn tiếp tục nhận được ý kiến từ doanh nghiệp, địa phương và các tổ chức quốc tế để hoàn thiện hướng dẫn, bảo đảm khi EUDR có hiệu lực, toàn ngành cao su có thể triển khai đồng bộ. Tại Hội thảo, ông Tô Văn Huấn, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, theo EUDR, các sản phẩm như gỗ, cà phê, cao su, ca cao, dầu cọ, gia súc và nhiều sản phẩm phái sinh muốn vào thị trường EU phải đáp ứng ba yêu cầu cốt lõi gồm: không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020; được sản xuất hợp pháp theo pháp luật quốc gia; đồng thời có hồ sơ thẩm định trách nhiệm và khả năng truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Để đáp ứng các yêu cầu này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng khung thích ứng EUDR cho ba ngành hàng trọng điểm gồm cao su, cà phê và gỗ; đồng thời hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu vùng trồng, quy chế quản lý dữ liệu và nền tảng truy xuất nguồn gốc. Hiện hệ thống dữ liệu phục vụ EUDR được xây dựng trên ba nền tảng gồm cơ sở dữ liệu ranh giới rừng, cơ sở dữ liệu vùng trồng và hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Mỗi vùng trồng sẽ được cấp mã truy xuất, tích hợp đầy đủ thông tin về chủ hộ, tọa độ, nhật ký sản xuất, đơn vị thu mua, chế biến và xuất khẩu. Theo kế hoạch, trong năm 2026, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ, các tổ chức quốc tế như GIZ, IDH, FAO, Forest Trends… hoàn thiện kế hoạch hành động quốc gia về thích ứng EUDR, mở rộng xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng, đồng thời tăng cường tập huấn, truyền thông cho doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn đối mặt nhiều khó khăn. Việt Nam hiện có hơn 900.000 ha cao su, trong đó trên 60% là cao su tiểu điền với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, gây nhiều trở ngại cho việc thu thập dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, việc chia sẻ dữ liệu giữa các cấp còn chưa đồng bộ; nhiều hộ sản xuất chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng đất, trong khi nhận thức về EUDR vẫn còn hạn chế. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, để đáp ứng lộ trình thực thi, cần sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu vùng trồng, ban hành tài liệu hướng dẫn chính thức, tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ xác định tọa độ vùng trồng, xác minh chủ sử dụng đất và hướng dẫn người dân hoàn thiện hồ sơ. Doanh nghiệp đã chủ động nhưng còn nhiều thách thức Theo ông Võ Hoàng An, Tổng Thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam, ngành cao su đã chủ động tiếp cận EUDR từ rất sớm và đạt được nhiều kết quả tích cực. Đến năm 2025, diện tích cao su cả nước đạt khoảng 915.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 54% diện tích nhưng đóng góp hơn 62% sản lượng. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt khoảng 11,5 tỷ USD, trong đó thị trường EU đạt khoảng 772 triệu USD, tương đương 9,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù thị trường EU chưa phải thị trường lớn đối với cao su thiên nhiên nhưng lại là thị trường quan trọng đối với các sản phẩm chế biến sâu như săm lốp, găng tay và các sản phẩm công nghiệp cao su. Vì vậy, việc đáp ứng EUDR không chỉ nhằm duy trì thị trường xuất khẩu mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành. Hiệp hội đánh giá Việt Nam có lợi thế khi đã sớm thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên và chủ động xây dựng các kế hoạch thích ứng. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn là khu vực cao su tiểu điền với quy mô sản xuất phân tán, gây khó khăn cho truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện hồ sơ pháp lý. Trong khi đó, ông Diệp Xuân Trường - Phó trưởng ban Công nghiệp, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam (VRG) cho biết, các đơn vị thành viên đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đáp ứng EUDR. Đến tháng 6/2026, khoảng 305.000 ha, tương đương 81% diện tích cao su do Tập đoàn quản lý, đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu của EUDR; 23 đơn vị được khách hàng châu Âu công nhận đáp ứng quy định này. Với VRG, theo tính toán sơ bộ, việc đáp ứng quy định EUDR giúp giá bán cao su tăng thêm khoảng 150-250 USD/tấn, mang lại giá trị gia tăng khoảng 70-80 tỷ đồng. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cho rằng việc mở rộng tuân thủ sang khu vực cao su tiểu điền còn gặp nhiều trở ngại do người dân thiếu hồ sơ pháp lý, thiếu thông tin định vị vùng trồng và chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu của thị trường. Tại Hội thảo, các chuyên gia nhận định, để quy định EUDR không trở thành rào cản thương mại mà trở thành động lực nâng cao giá trị ngành hàng, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hiệp hội và người sản xuất trong xây dựng cơ sở dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện chuỗi cung ứng. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để ngành cao su Việt Nam duy trì và mở rộng thị phần tại thị trường EU trong giai đoạn tới. Xây dựng cơ sở dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện hướng dẫn tuân thủ được xem là "chìa khóa" giúp ngành cao su đáp ứng EUDR, giữ vững cơ hội tại thị trường EU.
Xem thêm

Hoa Kỳ kết luận sơ bộ thuế chống trợ cấp lốp xe nhập từ Việt Nam

Bộ Thương mại Hoa Kỳ sơ bộ áp dụng mức thuế cho 2 doanh nghiệp xuất khẩu lốp xe Việt Nam ở mức từ 3,01% đến 5,84%. Đây là mức thuế giảm đáng kể so với mức ban đầu.   Thông tin từ Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương cho biết, ngày 23/6, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ban hành trên Công báo Liên bang Kết luận sơ bộ của đợt rà soát hành chính lần thứ tư (POR4) đối với lệnh áp thuế chống trợ cấp đối với sản phẩm lốp xe khách và xe tải nhẹ (Passenger Vehicle and Light Truck Tires - PVLT) nhập khẩu từ Việt Nam cho giai đoạn rà soát (POR) từ ngày 1/1/2024 đến 12/31/2024. Sản phẩm lốp xe trên đã bị Hoa Kỳ áp thuế chống trợ cấp từ năm 2021. Theo kết luận sơ bộ, DOC xác định 04 chương trình là trợ cấp có thể đối kháng trong kỳ rà soát, gồm: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án đầu tư mới; miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu; các khoản vay ưu đãi từ ngân hàng thương mại nhà nước dành cho doanh nghiệp xuất khẩu và ưu đãi cho thuê đất tại khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Ngoài ra, 3 chương trình được Bộ Thương mại Hoa Kỳ kết luận được doanh nghiệp sử dụng nhưng không tạo ra lợi ích có thể đo lường trong kỳ rà soát, gồm: cung cấp cao su thiên nhiên với mức giá thấp giá thông thường; giảm chi phí bốc xếp hàng hóa và miễn phí bảo trì và phí quản lý.  Trong kết luận lần này, DOC sơ bộ áp dụng mức thuế ở mức từ 3,01% đến 5,84%. Ảnh: Khôi Nguyên 28 chương trình còn lại được DOC sơ bộ kết luận không được các doanh nghiệp sử dụng trong POR, bao gồm một số chương trình như: ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu kinh tế; các chương trình hỗ trợ xuất khẩu; tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Phát triển Việt Nam; hỗ trợ lãi suất; bảo lãnh xuất khẩu; các chương trình ưu đãi tiền thuê đất khác; miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị; các chương trình tín dụng xanh; cung cấp điện, nước với giá ưu đãi… Theo đó, DOC sơ bộ áp dụng mức thuế cho 02 doanh nghiệp bị đơn Việt Nam (doanh nghiệp đã đề nghị rà soát lệnh áp thuế trong giai đoạn này) ở mức từ 3,01% đến 5,84%. Các doanh nghiệp còn lại không đề nghị rà soát tiếp tục nhận mức thuế được tính từ cuộc điều tra ban đầu là 6,46%. Kết quả hiện nay mới là kết luận sơ bộ. Tiếp đó, dự kiến DOC sẽ tiến hành thẩm tra tại chỗ nhằm xác minh các thông tin các bên đã cung cấp. Sau khi có bản báo cáo thẩm tra cuối cùng, các bên liên quan có quyền nộp ý kiến bình luận, phản biện bằng văn bản gửi DOC. Ngoài ra các bên quan tâm có thể gửi yêu cầu tổ chức phiên điều trần trong vòng 30 ngày kể từ ngày công bố thông báo kết luận sơ bộ.  Trừ trường hợp gia hạn, DOC dự kiến ban hành kết quả cuối cùng đợt rà soát này trong vòng 120 ngày kể từ ngày công bố Kết quả sơ bộ trên Công báo Liên bang. Mức ký quỹ tiền mặt đối với các lô hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ được xác định theo mức trợ cấp cuối cùng của từng doanh nghiệp; trường hợp mức trợ cấp dưới 0,5% sẽ được coi là không đáng kể và không phải nộp ký quỹ. Đối với các doanh nghiệp không được rà soát riêng, mức ký quỹ tiếp tục áp dụng là 6,46%.    Cục Phòng vệ thương mại cho biết, nhìn chung thuế chống trợ cấp sơ bộ sau vụ rà soát hành chính lần thứ 4 đã giảm đáng kể so với mức thuế ban đầu (từ 6,46% đến 7,89%). Đây là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp liên quan, Chính phủ Việt Nam (đầu mối là Cục Phòng vệ thương mại với cơ quan điều tra). Tuy nhiên đây mới chỉ là kết luận sơ bộ, các doanh nghiệp cần chuẩn bị tốt cho quá trình thẩm tra tại chỗ và quá trình nộp bình luận/phản biện, tham dự phiên điều trần trước khi DOC ban hành kết luận cuối cùng. Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu lốp xe liên quan tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến vụ việc, phối hợp đầy đủ với DOC trong quá trình thẩm tra và các giai đoạn tiếp theo của cuộc rà soát để đạt được Kết luận cuối cùng tích cực; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Cục Phòng vệ thương mại để được hỗ trợ kịp thời trong quá trình xử lý vụ việc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Xem thêm

Xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng hơn 184% trong tháng 5

5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng 184,7%, đưa mức xuất siêu hàng hóa có xuất xứ nội địa vượt 5,6 tỷ USD.   Thương mại Việt Nam - Singapore tăng hơn 43% Theo Thương vụ Việt Nam tại Singapore dẫn số liệu của Cơ quan Quản lý doanh nghiệp Singapore, trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Singapore với thế giới đạt 729,3 tỷ SGD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu đạt 388,6 tỷ SGD, tăng 30,4%; nhập khẩu đạt 340,7 tỷ SGD, tăng 29,6%. Đáng chú ý, hoạt động thương mại của Singapore với các đối tác lớn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Đài Loan (Trung Quốc) tạm thời giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Singapore với kim ngạch trao đổi song phương đạt 127,4 tỷ SGD, tăng 90% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là Trung Quốc với 72 tỷ SGD tăng 13,9%, Malaysia đạt 67,9 tỷ SGD tăng 13,5%, Hoa Kỳ đạt 63,5 tỷ USD tăng 7,3% và Hồng Công (Trung Quốc) đạt 44,6 tỷ SGD tăng 29%. Trong bức tranh đó, Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí đối tác thương mại lớn thứ 10 của Singapore. Tổng kim ngạch thương mại song phương trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 23,3 tỷ SGD, tăng 43,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu của Singapore sang Việt Nam đạt 12,3 tỷ SGD, tăng 4,8%; nhập khẩu từ Việt Nam đạt 11 tỷ SGD, tăng tới 142,9%. Đáng chú ý, nếu chỉ tính hàng hóa có xuất xứ nội địa, Singapore đang nhập siêu từ Việt Nam hơn 7,3 tỷ SGD, tương đương khoảng 5,6 tỷ USD. Điều này cho thấy giá trị hàng hóa có xuất xứ thực sự từ Việt Nam xuất sang Singapore đang ở mức cao và tiếp tục gia tăng. Riêng trong tháng 5/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt gần 4,5 tỷ SGD, tăng 42,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Singapore sang Việt Nam đạt 2 tỷ SGD, giảm 11,8%, trong khi nhập khẩu từ Việt Nam đạt gần 2,5 tỷ SGD, tăng mạnh 184,7%. Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí đối tác thương mại lớn thứ 10 của Singapore. Ảnh minh hoạ Về cơ cấu hàng hóa, trong 5 tháng đầu năm 2026, hai nhóm hàng là máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) và nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) tiếp tục là hai nhóm hàng hóa xuất khẩu thứ 1 và 2 của Singapore tới Việt Nam. Cụ thể, nhóm HS 85 đạt 5,9 tỷ SGD, giảm nhẹ 2,8% so với cùng kỳ năm trước; nhóm HS 27 đạt 2,5 tỷ SGD, tăng 28,8%. Tuy cùng chiếm tỷ trọng lớn, nhưng bản chất của hai nhóm hàng này có sự khác biệt rõ rệt. Đối với nhóm HS 85, có tới 95,3% giá trị là hàng tạm nhập tái xuất từ nước thứ ba thông qua Singapore. Trong khi đó, nhóm HS 27 chủ yếu là hàng hóa được sản xuất trong nước tại Singapore, với tỷ trọng giá trị nội địa chiếm tới 90,1% trong tổng xuất khẩu sang Việt Nam. Ngoài ra, một số nhóm hàng khác cũng ghi nhận tăng trưởng đáng chú ý như nhóm lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí (HS 84) đạt 1,2 tỷ SGD, tăng 49,7%; nhóm tinh dầu, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh (HS 33) đạt 292,7 triệu SGD, tăng 14,4%. Ở chiều ngược lại, máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) tiếp tục là nhóm hàng Singapore nhập khẩu nhiều nhất từ Việt Nam với giá trị gần 5,9 tỷ SGD, tăng tới 161,8%, chiếm 53,6% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam. Đứng thứ hai là nhóm HS 84 với gần 3,7 tỷ SGD, tăng 268,7%. Một số nhóm hàng khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao như nhiên liệu và sản phẩm dầu mỏ (HS 27) tăng 244,9%; muối, lưu huỳnh, đất đá, thạch cao, vôi và xi măng (HS 25) tăng 55,3%; giấy và sản phẩm từ giấy (HS 48) tăng 58,1%; đồ chơi và dụng cụ thể thao (HS 95) tăng 87,9%. Theo báo cáo ngoại thương được Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) công bố ngày 17/6/2026, xuất khẩu nội địa phi dầu mỏ của Singapore tăng 38,4%, trong đó xuất khẩu điện tử tăng tới 94,8%, chủ yếu nhờ nhu cầu liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), mạch tích hợp, sản phẩm lưu trữ dữ liệu và máy tính cá nhân. Đây là nền tảng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của các nhóm hàng HS 85 và HS 84, đồng thời phản ánh việc Việt Nam ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng điện tử, linh kiện, máy móc và thiết bị công nghiệp trong khu vực. Đối với nhóm nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất (HS 27), tăng trưởng thương mại được hỗ trợ bởi nhu cầu đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của Việt Nam. Trong 4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu sản phẩm dầu mỏ tinh chế của Việt Nam tăng 28,7%, trong khi nhập khẩu LPG tăng 34,5%. Trong bối cảnh đó, Singapore tiếp tục phát huy vai trò là trung tâm giao dịch, lưu kho, lọc hóa dầu và phân phối nhiên liệu hàng đầu khu vực, qua đó góp phần thúc đẩy kim ngạch thương mại năng lượng giữa hai nước. Dư địa cho doanh nghiệp Việt Nam Theo ông Cao Xuân Thắng, Tham tán thương mại Việt Nam tại Singapore, báo cáo của Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) công bố ngày 25/5/2026 cho thấy, kinh tế Singapore trong năm 2026 được đánh giá là đang tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng khá tích cực, nhưng triển vọng chung trở nên thận trọng hơn do môi trường bên ngoài nhiều biến động. GDP Singapore trong quý I/2026 tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 5,7% của quý IV/2025. Trên cơ sở này, MTI tiếp tục duy trì dự báo tăng trưởng GDP cả năm trong khoảng 2-4%. Động lực tăng trưởng nổi bật đến từ các ngành có liên hệ chặt chẽ với chu kỳ công nghệ toàn cầu, đặc biệt là làn sóng phát triển trí tuệ nhân tạo (AI). Nhu cầu AI đã thúc đẩy mạnh hoạt động của các lĩnh vực điện tử, cơ khí chính xác, máy móc thiết bị và bán buôn. Trong quý I/2026, ngành chế tạo của Singapore tăng 7,9%; xây dựng tăng 11,8%; bán buôn tăng 11,7%; tài chính - bảo hiểm tăng 5,7%. Đây đều là những lĩnh vực tạo ra nhu cầu lớn đối với linh kiện điện tử, máy móc, vật liệu xây dựng, dịch vụ logistics và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng của Singapore cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Theo MTI, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông làm gia tăng nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng và nguyên liệu đầu vào, từ đó đẩy chi phí sản xuất và lạm phát tăng cao. Một số nhà máy lọc dầu và hóa dầu tại Singapore đã phải giảm công suất, trong khi nhiều doanh nghiệp hóa chất hạ nguồn phải tuyên bố bất khả kháng. Theo khảo sát của Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), lạm phát toàn phần năm 2026 được dự báo ở mức 2,3%, tăng đáng kể so với mức 1,5% trong dự báo trước đó; lạm phát lõi cũng tăng từ 1,5% lên 2%. Áp lực giá cả có thể làm giảm thu nhập thực tế của hộ gia đình và khiến người dân thận trọng hơn trong chi tiêu. Đây là lý do dự báo tiêu dùng tư nhân bị điều chỉnh giảm từ 3,5% xuống 3,2%, qua đó kéo dự báo tăng trưởng GDP chung mà MAS đưa ra xuống mức 3,5%. Dù vậy, thị trường lao động Singapore vẫn được đánh giá là tương đối ổn định. Theo ông Cao Xuân Thắng, tỷ lệ thất nghiệp cuối năm 2026 được dự báo ở mức 2,1%, không thay đổi so với khảo sát trước đó. Nhu cầu lao động vẫn duy trì tích cực trong các lĩnh vực công nghệ, tài chính, xây dựng, logistics và dịch vụ chuyên môn, dù sự phân hóa giữa các ngành có thể ảnh hưởng đến tốc độ tạo việc làm trong thời gian tới. Ông Cao Xuân Thắng, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Singapore. Ảnh: TTXVN Singapore vẫn được đánh giá là thị trường có sức mua cao, trung tâm thương mại - tài chính hàng đầu khu vực và là cửa ngõ quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế. Theo ông Cao Xuân Thắng, nhu cầu của thị trường Singapore thời gian tới có thể tiếp tục tích cực đối với các nhóm hàng công nghệ, linh kiện điện tử, máy móc thiết bị, sản phẩm phục vụ xây dựng, logistics, thực phẩm, đồ uống và hàng tiêu dùng thiết yếu. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng chất lượng, tiêu chuẩn, khả năng giao hàng ổn định và giá cả cạnh tranh, nhất là trong bối cảnh nhà nhập khẩu và người tiêu dùng Singapore có thể thận trọng hơn do lạm phát và chi phí sinh hoạt. Ông Cao Xuân Thắng cho biết, Thương vụ Việt Nam tại Singapore sẽ tiếp tục bám sát và cập nhật tình hình, cơ chế, chính sách của địa bàn nhằm kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp. Đồng thời, thương vụ sẽ tăng cường triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam kết nối giao thương, trưng bày hàng hóa, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm, qua đó nâng cao sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam tại thị trường Singapore. Thương vụ Việt Nam tại Singapore sẽ đẩy mạnh giới thiệu thị trường và các ngành hàng của Việt Nam tới các đối tác Singapore và khu vực, hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa vào thị trường này, đồng thời hỗ trợ các đoàn công tác từ Singapore sang Việt Nam tìm kiếm nguồn hàng, xúc tiến đầu tư trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Thương vụ cũng sẽ tiếp tục đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt Nam sang Singapore triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại và mở rộng cơ hội hợp tác kinh doanh.
Xem thêm
15/06/2026

Tận dụng FTA mới với Trung Đông, Nam Á: Doanh nghiệp Việt cần làm gì?

Các FTA mới với Israel và UAE mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa Việt, song để biến ưu đãi thành đơn hàng, doanh nghiệp cần chủ động về thị trường, logistics, quy tắc xuất xứ.   Nắm vững quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang có nhiều biến động, Trung Đông và Nam Á nổi lên là những khu vực giàu tiềm năng, sở hữu quy mô dân số lớn, nhu cầu nhập khẩu cao và khả năng chi trả ngày càng tăng. Đặc biệt, việc Việt Nam liên tiếp đưa vào thực thi các các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - UAE (CEPA) đã mở ra những cơ hội mới cho doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận sâu hơn các thị trường này. Các FTA mới với Israel và UAE mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa Việt, song để biến ưu đãi thành đơn hàng, doanh nghiệp cần chủ động về thị trường, logistics, quy tắc xuất xứ. Ảnh minh họa. Theo các chuyên gia, Trung Đông và Nam Á hiện có tổng dân số hơn 2 tỷ người, là khu vực có nhu cầu lớn đối với nhiều nhóm hàng thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thực phẩm chế biến, thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ và hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng cơ hội từ các FTA thế hệ mới sẽ không tự động chuyển hóa thành đơn hàng hoặc thị phần. Để tận dụng hiệu quả các ưu đãi thuế quan và mở rộng hiện diện tại khu vực, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị kỹ lưỡng về năng lực sản xuất, logistics, quy tắc xuất xứ, xây dựng thương hiệu và chiến lược phát triển thị trường dài hạn. Chia sẻ về việc thực thi các FTA mới với Israel và UAE, ông Trần Ngọc Bình, Trưởng phòng Quản lý Xuất nhập khẩu khu vực TP. Hồ Chí Minh (Cục Xuất nhập khẩu), cho biết từ đầu năm 2026, các đơn vị cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) trên cả nước đã liên tục tổ chức các chương trình tập huấn, phổ biến quy định để hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các cam kết mới. Mặc dù kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với Israel và UAE hiện chưa lớn bằng các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU hay Trung Quốc, nhưng đây là những thị trường còn rất nhiều dư địa tăng trưởng. Đáng chú ý, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều có cơ hội thâm nhập tốt vào hai thị trường này. Ông Trần Ngọc Bình, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập khẩu khu vực TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Thanh Minh. Các nhóm hàng nông sản, thực phẩm, dệt may và giày dép đều được đánh giá có nhiều lợi thế cạnh tranh. Đây là những lĩnh vực mà Israel và UAE không có nhiều sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam, đồng thời nhu cầu nhập khẩu lại tương đối ổn định. Một trong những điểm thuận lợi lớn nhất đối với doanh nghiệp là quy tắc xuất xứ trong các FTA với Israel và UAE được xây dựng theo hướng tương đối dễ đáp ứng. Đối với các sản phẩm nông nghiệp, tiêu chí xuất xứ chủ yếu dựa trên việc hàng hóa được nuôi trồng, sản xuất hoặc thu hoạch tại Việt Nam. Đối với các sản phẩm công nghiệp chế biến, các tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc hàm lượng giá trị khu vực cũng được thiết kế ở mức phù hợp với năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam. Theo đánh giá của các cơ quan quản lý, phần lớn doanh nghiệp sản xuất trong nước đều có khả năng đáp ứng các yêu cầu này nếu chủ động tìm hiểu và chuẩn bị hồ sơ đúng quy định. Tuy nhiên, ông Trần Ngọc Bình cũng lưu ý doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ phương pháp tính hàm lượng giá trị khu vực của từng hiệp định để tránh nhầm lẫn trong quá trình khai báo và xin cấp C/O. Việc hiểu đúng quy định ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và tận dụng tối đa các ưu đãi thuế quan mà hiệp định mang lại. Logistics trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh Bên cạnh lợi thế từ các FTA, bài toán logistics đang nổi lên là một trong những thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Trung Đông. Ông Nguyễn Duy Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam. Ảnh: Thanh Minh. Ông Nguyễn Duy Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), cho rằng trong bối cảnh tình hình địa chính trị khu vực vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các phương án phòng ngừa ngay từ khâu ký kết hợp đồng. Theo Phó Chủ tịch VLA, các điều khoản về bất khả kháng cần được quy định cụ thể, rõ ràng hơn trước đây. Những tình huống như chiến tranh, xung đột quân sự, gián đoạn tuyến vận tải hoặc hãng tàu thay đổi hành trình cần được đưa vào hợp đồng để xác định rõ trách nhiệm và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các bên. Một vấn đề khác đang được các doanh nghiệp logistics quốc tế áp dụng là quyền chấm dứt hành trình tại một điểm trung chuyển trong trường hợp xảy ra rủi ro bất thường. Khi đó, hàng hóa có thể bị dỡ xuống tại một cảng trung gian thay vì được vận chuyển tới điểm đích như hợp đồng ban đầu. Nếu doanh nghiệp không chuẩn bị trước các điều khoản xử lý tình huống này, nguy cơ phát sinh chi phí và tranh chấp là rất lớn. Ngoài việc chú trọng hợp đồng và bảo hiểm hàng hóa, doanh nghiệp cũng cần chủ động lựa chọn các tuyến vận tải phù hợp để giảm thiểu rủi ro. Trong bối cảnh một số tuyến hàng hải quan trọng đang chịu tác động bởi bất ổn địa chính trị, việc tận dụng các cảng trung chuyển nằm ngoài khu vực rủi ro được xem là giải pháp khả thi. Theo đại diện VLA, các cảng tại UAE và Oman đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong mạng lưới logistics khu vực. Từ đây, hàng hóa có thể được vận chuyển bằng đường bộ hoặc đường biển ngắn để tiếp cận các quốc gia vùng Vịnh cũng như nhiều thị trường lân cận. Đặc biệt, ông Nguyễn Duy Minh đề xuất doanh nghiệp Việt Nam cần mạnh dạn xây dựng các mô hình liên kết logistics tại Trung Đông. Thay vì mỗi doanh nghiệp tự thuê kho bãi và vận hành riêng lẻ, có thể hình thành các liên doanh hoặc trung tâm logistics chung tại Dubai nhằm tập trung hàng hóa, giảm chi phí lưu kho và nâng cao khả năng phân phối. Mô hình này không chỉ giúp giảm chi phí logistics mà còn tạo nền tảng để hàng Việt Nam tiếp cận sâu hơn vào thị trường Trung Đông và mở rộng sang khu vực Đông Phi, một thị trường đang có nhu cầu nhập khẩu rất lớn nhưng vẫn còn ít doanh nghiệp Việt Nam khai thác. Nông sản và gia vị Việt Nam giữ lợi thế nhưng không thể chủ quan Là đại diện ngành hàng đã có nhiều năm chinh phục thị trường Trung Đông, ông Lê Việt Anh, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam, cho biết gia vị Việt Nam hiện đang giữ vị thế rất cao tại nhiều thị trường trong khu vực. Ông Lê Việt Anh, Tổng Thư ký Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam. Ảnh: Thanh Minh. Sau khi trở thành quốc gia xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, Việt Nam hiện chiếm tỷ trọng rất lớn trong nhập khẩu hồ tiêu tại nhiều quốc gia. Đây là nền tảng thuận lợi để mở rộng thêm các mặt hàng gia vị khác như quế, hồi, gừng, nghệ và các sản phẩm chế biến sâu. Tuy nhiên, theo ông Việt Anh, việc duy trì và mở rộng thị phần không hề dễ dàng. Một trong những điểm yếu lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là khâu bao bì, thiết kế và xây dựng thương hiệu. Trong khi trước đây phần lớn hàng hóa được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô với quy cách đóng gói lớn, xu hướng tiêu dùng tại Trung Đông đang chuyển mạnh sang các sản phẩm đóng gói nhỏ, tiện lợi và có thương hiệu rõ ràng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư bài bản hơn vào thiết kế bao bì, nhãn mác cũng như ngôn ngữ thể hiện trên sản phẩm. Ngoài tiếng Anh, nhiều thị trường yêu cầu thông tin sản phẩm phải được thể hiện bằng tiếng Arab hoặc ngôn ngữ địa phương. Đây là yêu cầu bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn mở rộng sự hiện diện trong hệ thống bán lẻ hiện đại. Về tiêu chuẩn chất lượng, dù yêu cầu của một số thị trường Trung Đông chưa khắt khe bằng các thị trường phát triển như EU hay Hoa Kỳ, doanh nghiệp vẫn phải bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng hóa chất và kim loại nặng. Một vấn đề được ông Việt Anh đặc biệt nhấn mạnh là nguy cơ lừa đảo và tranh chấp thương mại. Theo ông, đây là rủi ro mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã gặp phải trong những năm qua khi giao dịch với các đối tác tại khu vực Trung Đông. Do đó, doanh nghiệp cần thẩm định kỹ năng lực đối tác, lựa chọn phương thức thanh toán an toàn, đồng thời chủ động tham khảo thông tin từ các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài trước khi ký kết các hợp đồng có giá trị lớn. Doanh nghiệp cần hiện diện trực tiếp tại thị trường Theo các chuyên gia thương mại quốc tế, một trong những hạn chế lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là vẫn chủ yếu xuất khẩu theo hình thức bán hàng cho nhà nhập khẩu hoặc nhà phân phối trung gian mà chưa có sự hiện diện trực tiếp tại thị trường. Ông Trương Xuân Trung, Phụ trách Thương vụ Việt Nam tại UAE, cho biết hiện cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tại UAE đã hình thành và hoạt động tương đối ổn định, song số lượng doanh nghiệp trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu vẫn còn khá khiêm tốn. Trong khi đó, UAE được đánh giá là một trong những trung tâm thương mại, logistics và tài chính lớn nhất thế giới. Không chỉ là cửa ngõ vào thị trường Trung Đông, UAE còn là điểm trung chuyển quan trọng để tiếp cận châu Phi, Nam Á và nhiều khu vực khác. Theo các chuyên gia, việc thành lập văn phòng đại diện hoặc doanh nghiệp tại UAE hiện tương đối thuận lợi. Nhiều khu thương mại tự do áp dụng chính sách ưu đãi về thuế, thủ tục đầu tư và chi phí vận hành ở mức cạnh tranh. Khi có hiện diện trực tiếp tại thị trường, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong việc theo dõi hệ thống phân phối, tiếp cận người tiêu dùng cuối cùng, phát triển thương hiệu và xử lý các vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh doanh. Quan trọng hơn, việc hiện diện tại thị trường giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn xu hướng tiêu dùng, nhu cầu khách hàng và những thay đổi trong chính sách nhập khẩu của từng quốc gia, từ đó điều chỉnh chiến lược sản phẩm phù hợp. Theo đánh giá của các cơ quan xúc tiến thương mại, nhiều mặt hàng Việt Nam hiện đã xuất hiện khá phổ biến trong các hệ thống siêu thị tại Trung Đông, đặc biệt là trái cây tươi, hạt điều, gia vị và thực phẩm chế biến. Tuy nhiên, phần lớn người tiêu dùng vẫn chưa nhận diện rõ thương hiệu Việt Nam do sản phẩm chủ yếu được phân phối thông qua các nhà nhập khẩu hoặc thương hiệu trung gian. Theo các chuyên gia, các FTA mới với Israel và UAE đang mở ra cơ hội lớn chưa từng có cho hàng hóa Việt Nam tại Trung Đông và Nam Á. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành kết quả thực tế, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy từ xuất khẩu ngắn hạn sang chiến lược phát triển thị trường dài hạn. Điều này đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc của doanh nghiệp vào nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu, phát triển logistics, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, tận dụng hiệu quả ưu đãi FTA và tăng cường hiện diện tại nước sở tại. Đây là bước đi quan trọng giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới phân phối toàn cầu.
Xem thêm

Tập đoàn Y Dược Sâm Ngọc Linh Việt Nam - sứ mệnh “Mang Sâm Ngọc Linh đến với mọi nhà”

24/06/2026
CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN Y DƯỢC SÂM NGỌC LINH VIỆT NAM – TIÊN PHONG ĐƯA QUỐC BẢO VIỆT NAM RA THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ Giới thiệu doanh nghiệp Công ty Cổ phần Tập đoàn Y Dược Sâm Ngọc Linh Việt Nam (VKD Group) là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển, bảo tồn và thương mại hóa các sản phẩm từ Sâm Ngọc Linh – dược liệu được mệnh danh là “Quốc bảo Việt Nam”. Với hành trình gần 10 năm hình thành và phát triển, VKD Group không ngừng đầu tư vào vùng nguyên liệu, nghiên cứu khoa học, công nghệ chế biến và hệ thống phân phối nhằm xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ vùng trồng đến sản phẩm cuối cùng, góp phần nâng tầm giá trị dược liệu Việt Nam trên thị trường quốc tế. Sứ mệnh và tầm nhìn VKD Group được thành lập với sứ mệnh bảo tồn nguồn gen quý của Sâm Ngọc Linh, phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe chất lượng cao từ dược liệu Việt Nam và đưa Sâm Ngọc Linh trở thành thương hiệu quốc tế có giá trị bền vững. Doanh nghiệp hướng tới xây dựng hệ sinh thái y dược hiện đại dựa trên nền tảng kết hợp giữa tinh hoa dược liệu truyền thống và công nghệ sản xuất tiên tiến, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và quốc tế. Hệ thống vùng nguyên liệu Sâm Ngọc Linh Một trong những thế mạnh nổi bật của VKD Group là hệ thống vùng nguyên liệu được liên kết và phát triển tại các khu vực sinh trưởng phù hợp với Sâm Ngọc Linh. Doanh nghiệp hiện phát triển và liên kết các vùng trồng tại: Tu Mơ Rông, Kon Tum; Nam Trà My, Quảng Nam; Puxailaileng, Kỳ Sơn, Nghệ An. Việc đầu tư trực tiếp vào vùng nguyên liệu giúp doanh nghiệp chủ động nguồn cung, đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng từ giai đoạn nuôi trồng đến thu hoạch. Nghiên cứu và phát triển sản phẩm VKD Group tập trung nghiên cứu và ứng dụng các hoạt chất quý có trong Sâm Ngọc Linh nhằm phát triển đa dạng các dòng sản phẩm phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe hiện đại. Thông qua hoạt động nghiên cứu và hợp tác với các chuyên gia trong lĩnh vực y dược, doanh nghiệp từng bước hoàn thiện quy trình chiết xuất, bảo tồn hoạt chất và nâng cao giá trị sử dụng của Sâm Ngọc Linh trong nhiều nhóm sản phẩm khác nhau. Danh mục sản phẩm của doanh nghiệp bao gồm: Sâm Ngọc Linh tươi; Sâm Ngọc Linh ngâm mật ong; Trà Sâm Ngọc Linh; Nước Sâm Ngọc Linh; Cao Sâm Ngọc Linh; Thực phẩm bảo vệ sức khỏe từ Sâm Ngọc Linh; Các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và quà tặng cao cấp. Năng lực sản xuất và quản lý chất lượng VKD Group định hướng phát triển theo mô hình khép kín từ vùng nguyên liệu đến thành phẩm, chú trọng đầu tư công nghệ sản xuất hiện đại và hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt. Doanh nghiệp liên tục đầu tư vào hoạt động nghiên cứu, sản xuất và tiêu chuẩn hóa quy trình nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn định, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế. Trên hệ thống truyền thông của doanh nghiệp, nhiều sản phẩm được phát triển theo định hướng chuẩn hóa chất lượng và áp dụng các tiêu chuẩn quản lý tiên tiến. Định hướng xuất khẩu và hợp tác quốc tế Với mục tiêu đưa “Quốc bảo Việt Nam” vươn ra thế giới, VKD Group không ngừng mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế, tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, triển lãm chuyên ngành và xây dựng mạng lưới đối tác tại nhiều quốc gia. Doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến thị trường Trung Quốc – một trong những thị trường có truyền thống sử dụng nhân sâm và dược liệu lâu đời, đồng thời sở hữu nhu cầu lớn đối với các sản phẩm chăm sóc sức khỏe chất lượng cao có nguồn gốc tự nhiên. VKD Group mong muốn hợp tác với: Nhà nhập khẩu dược liệu; Nhà phân phối thực phẩm sức khỏe; Doanh nghiệp thương mại quốc tế; Nền tảng thương mại điện tử; Hệ thống bán lẻ và chuỗi cửa hàng chăm sóc sức khỏe; Đối tác OEM/ODM và phát triển thương hiệu. Cam kết hợp tác Với nền tảng vùng nguyên liệu, năng lực nghiên cứu phát triển và định hướng đầu tư dài hạn, Công ty Cổ phần Tập đoàn Y Dược Sâm Ngọc Linh Việt Nam cam kết mang đến cho đối tác những sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng ổn định và giá trị khác biệt từ dược liệu quý của Việt Nam. VKD Group mong muốn trở thành cầu nối đưa Sâm Ngọc Linh – Quốc bảo của Việt Nam – tiếp cận rộng rãi hơn với người tiêu dùng quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của dược liệu Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Đọc thêm0

BECHAMP – “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”

29/09/2025
BECHAMP – Thương hiệu cà phê hữu cơ tiên phong từ Đắk Nông Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng lan rộng, nhiều thương hiệu nông sản Việt Nam đã và đang chuyển mình để đáp ứng nhu cầu thị trường. Nổi bật trong số đó là BECHAMP – Hợp tác xã Nông sản hữu cơ tại Đắk Nông, đơn vị tiên phong trong việc áp dụng nguyên lý khoa học vào sản xuất nông nghiệp bền vững. Triết lý từ nền tảng khoa học Tên gọi BECHAMP được lấy cảm hứng từ nhà khoa học Antoine Bechamp – người đề cao sự cân bằng giữa các vi sinh vật trong tự nhiên. Triết lý này đã trở thành kim chỉ nam cho thương hiệu: tạo môi trường canh tác thuận lợi để vi sinh vật có lợi phát triển, từ đó giúp cây trồng khỏe mạnh, giảm phụ thuộc vào hóa chất và mang lại sản phẩm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Hướng tới nông nghiệp sạch và bền vững BECHAMP ứng dụng các chế phẩm sinh học từ nguyên liệu tự nhiên như cá, đậu tương, thân chuối, xác bã thực vật… nhằm tái tạo độ phì nhiêu cho đất và nâng cao sức đề kháng của cây trồng. Quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ từ khâu canh tác, chăm sóc đến chế biến, đảm bảo tiêu chí sạch, hữu cơ và thân thiện với môi trường. Không chỉ dừng ở đó, BECHAMP còn tích cực hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang canh tác hữu cơ, tư vấn miễn phí kỹ thuật sản xuất và xây dựng chuỗi liên kết bền vững. Đây cũng là một trong những điểm nhấn giúp thương hiệu khẳng định uy tín, đồng hành cùng cộng đồng. Sản phẩm đặc trưng vùng đất đỏ bazan Đắk Nông được biết đến là vùng đất đỏ bazan màu mỡ, nơi tạo nên hương vị đặc biệt cho cà phê. BECHAMP đã khai thác lợi thế này để cho ra đời nhiều dòng sản phẩm chất lượng cao như: beCHAMP Coffee Gu Mạnh, beCHAMP Coffee Honey Nắng Vàng, beCHAMP Coffee Natural Nắng Vàng… Các sản phẩm không chỉ giữ trọn hương vị nguyên bản của cà phê Việt mà còn đảm bảo an toàn, giàu giá trị dinh dưỡng. Thương hiệu uy tín – Hướng đến tương lai xanh Với phương châm “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”, BECHAMP đang dần trở thành thương hiệu cà phê hữu cơ uy tín, góp phần nâng cao giá trị nông sản Việt trên thị trường trong và ngoài nước. Sự minh bạch trong quy trình sản xuất, cam kết chất lượng cùng định hướng phát triển bền vững đã giúp BECHAMP tạo dựng niềm tin với khách hàng và đối tác. Trong tương lai, BECHAMP không chỉ dừng lại ở thị trường cà phê hữu cơ mà còn hướng tới mở rộng mô hình nông nghiệp xanh, lan tỏa giá trị bền vững đến nhiều lĩnh vực khác, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại và thân thiện với môi trường.
Đọc thêm0

VIHAMARK - Chuẩn vị tự nhiên – Tự hào thương hiệu Việt

02/08/2025
Vihamark – Khẳng định vị thế thương hiệu nước giải khát Việt từ nguồn nguyên liệu tự nhiên Trong hành trình hội nhập và phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm - đồ uống Việt Nam, Công ty Cổ phần Tập đoàn Vihamark đang dần định hình vị thế là một trong những doanh nghiệp tiên phong sản xuất nước giải khát thiên nhiên chất lượng cao, ứng dụng công nghệ hiện đại và khai thác tối đa giá trị từ nông sản bản địa. Với triết lý “Tự nhiên là chuẩn mực”, Vihamark không ngừng đổi mới để mang đến những sản phẩm tốt cho sức khỏe, gắn kết giữa con người – thiên nhiên – công nghệ một cách hài hòa và bền vững. Hành trình kiến tạo thương hiệu từ nền tảng giá trị thật Thành lập từ năm 2016, Vihamark khởi nguồn tại Khu công nghiệp Đồng Văn II (Hà Nam) với khát vọng trở thành thương hiệu giải khát Việt Nam tiêu biểu, sánh ngang cùng các thương hiệu khu vực. Không đi theo lối mòn của các dòng nước uống đóng chai đại trà, Vihamark lựa chọn hướng đi khác biệt: tập trung vào sản phẩm nước giải khát từ nguyên liệu tự nhiên, không chất bảo quản, hàm lượng dinh dưỡng cao và vị ngon thuần khiết. Trải qua gần một thập kỷ phát triển, Vihamark đã mở rộng hệ sinh thái sản phẩm với gần 30 dòng nước giải khát, từ nước trái cây, nước thảo dược đến nước yến, nha đam, dừa, mãng cầu, măng cụt... Tất cả đều được nghiên cứu và phát triển dựa trên tinh thần “thức uống lành, chuẩn vị tự nhiên”, đáp ứng thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng từ thành thị đến nông thôn, từ nội địa đến xuất khẩu. Công nghệ – Nhân sự – Quản trị: Ba trụ cột kiến tạo chất lượng Chất lượng sản phẩm của Vihamark là kết tinh của ba yếu tố: công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực tận tâm, và hệ thống quản lý khoa học. Tại nhà máy Vihamark đặt tại Hà Nam, công ty đầu tư đồng bộ dây chuyền sản xuất nhập khẩu từ Nhật Bản, áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 22000:2018. Mỗi công đoạn – từ chọn lọc nguyên liệu, xử lý, chiết rót, đóng gói – đều được kiểm soát nghiêm ngặt, đảm bảo không chỉ vị ngon mà còn sự an toàn tối đa cho người tiêu dùng. Đội ngũ nhân sự của Vihamark, với hơn 100 cán bộ công nhân viên, là những người trẻ năng động, yêu nghề và luôn đề cao tinh thần sáng tạo – chính trực. Văn hóa doanh nghiệp được xây dựng dựa trên nền tảng đề cao giá trị con người, khuyến khích học hỏi và gắn bó lâu dài, từ đó thúc đẩy năng suất và chất lượng lao động. Đa dạng sản phẩm – Định hình thị phần Nhận thức rõ vai trò của sự khác biệt trong xây dựng thương hiệu, Vihamark liên tục nghiên cứu và ra mắt các dòng sản phẩm mới, với điểm nhấn là các sản phẩm chứa thạch dừa, trái cây miền nhiệt đới, và nước yến chưng bổ dưỡng. Những sản phẩm như nước mãng cầu xiêm thạch dừa, nước măng cụt, nước nha đam mật ong, yến sào collagen, nước yến đường ăn kiêng… không chỉ gây ấn tượng bởi hương vị mà còn tạo dựng niềm tin về giá trị sức khỏe và sự tiện lợi. Đặc biệt, Vihamark xây dựng hệ thống thương hiệu mang tính phân khúc như: FPI 100 – Nước ép trái cây tươi nguyên chất Quà tặng từ thiên nhiên – Dòng sản phẩm quà biếu cao cấp Năng lượng bất tận – Dòng nước uống bổ sung năng lượng Chuẩn vị tự nhiên – Dòng nước giải khát truyền thống kết hợp hiện đại Thị trường rộng mở – Tầm nhìn toàn cầu Từ một nhà sản xuất nội địa, Vihamark đã phát triển hệ thống phân phối rộng khắp ba miền Việt Nam, với hàng ngàn điểm bán lẻ và đối tác chiến lược. Không dừng lại ở đó, sản phẩm của công ty đã có mặt tại nhiều thị trường quốc tế, phục vụ cộng đồng người Việt và khách hàng nước ngoài tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Định hướng đến năm 2030, Vihamark đặt mục tiêu trở thành top 5 thương hiệu nước giải khát tự nhiên được yêu thích nhất tại Đông Nam Á, đồng thời gia tăng sản lượng xuất khẩu gấp 3 lần hiện tại. Để hiện thực hóa điều đó, công ty đang tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, phát triển thêm nhà máy mới tại các tỉnh trọng điểm nông nghiệp, đồng thời số hóa hệ thống quản trị và bán hàng. Cam kết phát triển bền vững Không chỉ kinh doanh hiệu quả, Vihamark còn chú trọng đến trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Từ việc thu mua nguyên liệu từ nông dân với giá ổn định, tham gia các chương trình hỗ trợ phát triển vùng trồng bền vững, cho đến các hoạt động thiện nguyện, tài trợ học bổng, bảo vệ môi trường – tất cả thể hiện triết lý kinh doanh nhân văn mà công ty theo đuổi. Vihamark không chỉ là một thương hiệu nước giải khát – mà là biểu tượng cho một triết lý sống khỏe, sống xanh, sống lành mạnh cùng thiên nhiên. Với nền tảng vững chắc và chiến lược rõ ràng, Tập đoàn Vihamark đang sẵn sàng cho hành trình bứt phá tiếp theo, đưa thương hiệu Việt vươn xa trên thị trường quốc tế.
Đọc thêm0

Yến sào FanZa – Khởi nguồn sức sống, kết nối niềm tin

09/07/2025
Yến sào FanZa là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm yến sào chất lượng cao tại Việt Nam. Với sứ mệnh “Mang tinh hoa yến Việt đến với mọi gia đình trên toàn thế giới”, FanZa không ngừng đầu tư vào công nghệ hiện đại, quy trình sản xuất khép kín và đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm nhằm đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng tối ưu, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. 🌿 Sản phẩm đa dạng, chất lượng vượt trội FanZa cung cấp đa dạng các dòng sản phẩm yến sào như: yến thô, yến tinh chế, yến chưng sẵn, yến chưng đường phèn, yến sào kết hợp thảo dược… Tất cả sản phẩm đều được chế biến từ nguồn yến tự nhiên khai thác tại các vùng yến nổi tiếng của Việt Nam, đảm bảo giữ trọn hàm lượng dinh dưỡng quý giá. 🏭 Nhà máy đạt tiêu chuẩn quốc tế Nhà máy FanZa được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại, đạt chứng nhận HACCP, ISO 22000, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm ở mức cao nhất. Mọi khâu từ tuyển chọn nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến đóng gói đều được kiểm soát nghiêm ngặt bằng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến. 🚀 Tầm nhìn - Sứ mệnh - Giá trị cốt lõi FanZa đặt mục tiêu trở thành thương hiệu yến sào hàng đầu khu vực Đông Nam Á, góp phần nâng tầm giá trị yến sào Việt Nam trên thị trường quốc tế. Chúng tôi cam kết mang đến sản phẩm yến sào nguyên chất, an toàn, giàu dinh dưỡng cùng dịch vụ chuyên nghiệp, tận tâm. FanZa luôn đề cao các giá trị: Chất lượng – Uy tín – Sáng tạo – Phát triển bền vững. 🤝 Đối tác tin cậy FanZa đã và đang trở thành đối tác tin cậy của nhiều hệ thống phân phối, siêu thị, doanh nghiệp xuất khẩu tại các thị trường khó tính như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, và EU.
Đọc thêm0
Đọc thêm
popup

Số lượng:

Tổng tiền: