Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS - Trang Thông Tin Xuất Nhập Khẩu IMEX NEWS cung cấp dịch vụ uỷ thác bán hàng Quốc Tế, có cam kết doanh số cho khách hàng. Liên hệ 0982.515.526

22/06/2026

IMEX NEWS và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình ký kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2026–2028: Mở rộng đầu ra cho sản phẩm OCOP, thúc đẩy đầu tư và xuất khẩu sang Trung Quốc

    Ngày 18/6/2026, tại trụ sở Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình, Công ty TNHH IMEX NEWS và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình đã tổ chức buổi làm việc, trao đổi định hướng hợp tác và chính thức ký kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2026–2028. Đây là dấu mốc quan trọng mở đầu cho mô hình hợp tác giữa một đơn vị xúc tiến thương mại chuyên sâu với tổ chức đại diện cho khu vực kinh tế tập thể, hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ và thu hút đầu tư cho các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.        Buổi làm việc diễn ra trong không khí cởi mở, thẳng thắn và mang tính xây dựng với sự tham dự của lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình, đại diện các phòng chuyên môn cùng Ban lãnh đạo và đội ngũ chuyên gia của IMEX NEWS. Hướng tới mục tiêu giải quyết đầu ra cho sản phẩm hợp tác xã       Trong bối cảnh nhiều hợp tác xã đã từng bước nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và xây dựng thành công các sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng của địa phương, vấn đề lớn nhất hiện nay không còn là "làm ra sản phẩm" mà là "bán được sản phẩm một cách bền vững". Hai bên thống nhất nhận định, để kinh tế tập thể phát triển hiệu quả trong giai đoạn mới, cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ sản xuất sang tư duy phát triển thị trường, xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sản xuất – chế biến – tiêu thụ – xuất khẩu. Xuất phát từ thực tiễn đó, Chương trình phối hợp giữa IMEX NEWS và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình được xây dựng với trọng tâm là kết nối đầu ra cho sản phẩm của các hợp tác xã, đồng thời hỗ trợ thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế. Hợp tác toàn diện từ xúc tiến thương mại đến xúc tiến đầu tư         Theo nội dung Chương trình phối hợp giai đoạn 2026–2028, hai bên sẽ tập trung triển khai nhiều hoạt động thiết thực nhằm hỗ trợ các hợp tác xã thành viên.          Trong lĩnh vực xúc tiến thương mại, IMEX NEWS sẽ phối hợp cùng Liên minh Hợp tác xã tỉnh tổ chức các đoàn khảo sát thị trường Trung Quốc, tạo điều kiện để các hợp tác xã tiếp cận trực tiếp hệ thống phân phối, doanh nghiệp nhập khẩu, trung tâm logistics, sàn thương mại điện tử, chuỗi bán lẻ và các mô hình tiêu thụ hiện đại. Đây không chỉ là hoạt động tham quan học tập mà hướng tới mục tiêu giúp các hợp tác xã hiểu rõ yêu cầu của thị trường, tiêu chuẩn hàng hóa và phương thức xây dựng kênh tiêu thụ ổn định. Song song với đó, các sản phẩm OCOP, sản phẩm chủ lực và đặc sản của tỉnh Ninh Bình sẽ được IMEX NEWS hỗ trợ quảng bá trên hệ sinh thái truyền thông song ngữ Việt – Trung, kết nối với các đối tác nhập khẩu và từng bước đưa vào Trung tâm Lựa chọn sản phẩm và Cung ứng hàng hóa Việt Nam tại Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc) để giới thiệu, lựa chọn và kết nối giao dịch.       Một nội dung được hai bên đặc biệt quan tâm là xúc tiến đầu tư. Thông qua mạng lưới đối tác tại Trung Quốc, IMEX NEWS sẽ phối hợp tìm kiếm các doanh nghiệp và nhà đầu tư có nhu cầu hợp tác với các hợp tác xã của tỉnh trong các lĩnh vực như phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư nhà máy chế biến nông sản, chuyển giao công nghệ, đầu tư dây chuyền sản xuất, kho lạnh, logistics, bao bì, bảo quản sau thu hoạch và thương mại điện tử xuyên biên giới. Đây được xem là hướng đi mới, góp phần giúp các hợp tác xã không chỉ mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn nâng cao năng lực sản xuất, gia tăng giá trị sản phẩm và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế. Khảo sát thực tế thay cho những hội thảo hình thức Một điểm nổi bật trong chương trình hợp tác là ưu tiên các hoạt động khảo sát thực tiễn. Thay vì tập trung vào các hội nghị, hội thảo mang tính lý thuyết, IMEX NEWS sẽ phối hợp xây dựng các chương trình khảo sát chuyên đề tại Trung Quốc theo từng nhóm ngành hàng và nhu cầu của các hợp tác xã. Các đoàn công tác sẽ trực tiếp làm việc với doanh nghiệp nhập khẩu, khảo sát trung tâm logistics, kho ngoại quan, hệ thống phân phối, chợ đầu mối, doanh nghiệp chế biến, cơ sở ứng dụng công nghệ cao, các nền tảng thương mại điện tử và livestream bán hàng. Thông qua các chuyến khảo sát này, các hợp tác xã có điều kiện tiếp cận trực tiếp thị trường, đánh giá nhu cầu tiêu dùng, học tập mô hình phát triển, đồng thời tìm kiếm đối tác phù hợp để xây dựng đầu ra lâu dài cho sản phẩm. Thí điểm tại Ninh Bình để nhân rộng trên toàn quốc        Phát biểu tại buổi làm việc, đại diện IMEX NEWS cho biết việc lựa chọn Ninh Bình là địa phương đầu tiên triển khai mô hình hợp tác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ninh Bình là địa phương có nhiều sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, làng nghề truyền thống và các hợp tác xã hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, nhu cầu mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng và thu hút đầu tư vẫn còn rất lớn. Việc triển khai thành công mô hình phối hợp giữa IMEX NEWS và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình sẽ tạo cơ sở thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện quy trình, xây dựng các mô hình hỗ trợ phù hợp và từng bước nhân rộng tới các Liên minh Hợp tác xã trên phạm vi cả nước. Đại diện Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình đánh giá cao những định hướng hợp tác mà IMEX NEWS đề xuất, đặc biệt là cách tiếp cận lấy hiệu quả thực chất làm trung tâm, tập trung giải quyết nhu cầu về thị trường, đầu tư và tiêu thụ sản phẩm của các hợp tác xã. Hướng tới hệ sinh thái hỗ trợ hợp tác xã phát triển bền vững          Theo Chương trình phối hợp đã ký kết, trong giai đoạn 2026–2028, hai bên sẽ xây dựng kế hoạch phối hợp hằng năm, thường xuyên đánh giá kết quả thực hiện và điều chỉnh nội dung phù hợp với nhu cầu thực tiễn của các hợp tác xã. IMEX NEWS chịu trách nhiệm xây dựng các chương trình khảo sát thị trường, kết nối tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến đầu tư, quảng bá sản phẩm OCOP và phối hợp tổ chức các hoạt động kết nối thực tế cho các hợp tác xã của tỉnh. Với phương châm "Kết nối thực chất – Đồng hành dài hạn – Hiệu quả bền vững", IMEX NEWS kỳ vọng sẽ cùng Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho các hợp tác xã, từ xúc tiến thương mại, kết nối đầu tư, chuyển giao công nghệ đến phát triển thị trường xuất khẩu.       Lễ ký kết Chương trình phối hợp không chỉ mở ra cơ hội hợp tác giữa hai đơn vị mà còn thể hiện quyết tâm chung trong việc đồng hành cùng các hợp tác xã nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển kinh tế tập thể theo hướng hiện đại, hội nhập và bền vững, góp phần đưa các sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng của Ninh Bình từng bước khẳng định vị thế trên thị trường Trung Quốc và quốc tế.  
Xem thêm

Tin tức

Xuất khẩu bứt tốc, tạo dư địa cho tăng trưởng kinh tế

Xuất khẩu hàng hoá là một trong những yếu tố quan trọng góp phần cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.   Xuất nhập khẩu duy trì tăng trưởng Trong bài phát biểu Bế mạc Hội nghị Trung ương 3, Khoá XIV, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Trung ương thống nhất đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm; quyết tâm phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên, đồng thời giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, việc làm, thu nhập và an sinh xã hội. Thực tế, nhiều năm qua, xuất khẩu là một trong những yếu tố quan trọng đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Theo thông tin đưa ra tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ 6 tháng đầu năm diễn ra mới đây, GDP 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 8,18%, mức cao nhất của cùng kỳ kể từ năm 2011. Các động lực tăng trưởng truyền thống gồm đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu đều ghi nhận mức tăng tích cực, tạo nền tảng để Chính phủ triển khai mục tiêu tăng trưởng hai con số trong cả năm. Trong bức tranh đó, hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Thông tin kỹ hơn đến phóng viên Báo Công Thương, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, theo số liệu báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 6/2026, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 104,22 tỷ USD, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 36,3% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy vị thế ngày càng quan trọng của Việt Nam trong bản đồ thương mại quốc tế. Với tốc độ tăng trưởng hiện nay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm hoàn toàn có khả năng vượt mốc 1.000 tỷ USD. Theo ông Trần Thanh Hải, mức tăng trưởng khoảng 21% của xuất khẩu là kết quả rất tích cực trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều khó khăn. Đây không chỉ là tín hiệu cho thấy sự phục hồi của sản xuất trong nước mà còn phản ánh khả năng thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trước những biến động của thị trường quốc tế. Xuất khẩu duy trì tăng trưởng nửa đầu năm 2026 Thực tế, những nỗ lực của doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc duy trì đà tăng trưởng giữa bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng nhiều biến động. Theo ông Đinh Quốc Thái, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thép sản xuất ước đạt 14,8 triệu tấn, tăng 21,2%; sản lượng tiêu thụ đạt khoảng 17,9 triệu tấn, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù xuất khẩu thép ước đạt 1,79 triệu tấn, giảm 4,8%, song triển vọng cả năm vẫn tích cực khi sản lượng thép thô có thể đạt khoảng 27 triệu tấn, còn xuất khẩu dự kiến đạt khoảng 6 triệu tấn. Theo lãnh đạo VSA, việc xuất khẩu tăng trong khi nhập khẩu giảm là tín hiệu đáng khích lệ, phản ánh hiệu quả của các giải pháp quản lý thị trường, chính sách thương mại của cơ quan quản lý nhà nước cũng như năng lực cạnh tranh ngày càng được cải thiện của doanh nghiệp thép Việt Nam. Ở một lĩnh vực khác, thông tin đến phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết kim ngạch xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt khoảng 5,7 tỷ USD, tăng khoảng 11% so với cùng kỳ năm trước. Cộng đồng doanh nghiệp thủy sản đã chủ động gia tăng khoảng 30-40% các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, mở rộng xúc tiến thương mại và tăng cường kết nối thị trường nhằm đồng hành với mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế. Với một ngành xuất khẩu mang đến nguồn ngoại tệ lớn cho Việt Nam, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest), công nghiệp gỗ hiện là một trong những ngành có mức xuất siêu lớn của Việt Nam. Thành quả này có được nhờ ngành đã chủ động hơn 80% nguồn nguyên liệu từ rừng trồng trong nước, qua đó giảm đáng kể lượng nguyên liệu nhập khẩu trong khi vẫn duy trì kim ngạch xuất khẩu lớn. Ông Ngô Sỹ Hoài cho biết, việc chủ động nguồn nguyên liệu đã giúp ngành tạo ra giá trị xuất siêu đáng kể, đóng góp tích cực cho nền kinh tế cũng như cho tăng trưởng xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, để duy trì vai trò là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, doanh nghiệp gỗ đang phải đối mặt với không ít sức ép. Theo số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ trong tháng 5/2026 đạt 1,4 tỷ USD, giảm 8,8% so với tháng 4/2026, nhưng tăng 1,1% so với tháng 5/2025. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,02 tỷ USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy, ngành gỗ vẫn giữ được nhịp tăng trưởng ổn định trong bối cảnh nhiều thị trường xuất khẩu chủ lực tiếp tục đối mặt với những biến động về nhu cầu và các quy định thương mại. Nhập siêu phục vụ sản xuất và xuất khẩu Một vấn đề được dư luận quan tâm là mức nhập siêu khoảng 16,66 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm. Tuy nhiên, theo lãnh đạo Cục Xuất nhập khẩu, nếu nhìn sâu vào cơ cấu nhập khẩu sẽ thấy phần lớn kim ngạch tập trung ở các nhóm máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử và nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất. Hơn một nửa kim ngạch nhập khẩu hiện nay thuộc các nhóm điện tử, máy vi tính và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng. Cùng với đó là các mặt hàng nguyên liệu như xăng dầu, than, thép, hóa chất, chất dẻo, nguyên phụ liệu dệt may, da giày... phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, đầu tư và mở rộng năng lực của doanh nghiệp. Đánh giá này cũng trùng khớp với nhận định được đưa ra tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ 6 tháng đầu năm. Theo đó, nhập siêu chủ yếu xuất phát từ việc doanh nghiệp tăng cường nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện điện tử cũng như đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI). Điều này phản ánh xu hướng mở rộng năng lực sản xuất hơn là sự suy giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế. Có thể nói, trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, xuất khẩu không chỉ đóng vai trò mang lại nguồn ngoại tệ mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa tới đầu tư, sản xuất công nghiệp, việc làm và tiêu dùng trong nước. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Phát huy sức mạnh tổng hợp để xuất khẩu bứt phá Bước vào 6 tháng cuối năm, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đặt ra yêu cầu duy trì đà tăng của xuất khẩu mà còn đòi hỏi những giải pháp đồng bộ từ Chính phủ, các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp nhằm tạo thêm động lực mới cho nền kinh tế. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều bất định, việc giữ vững tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không thể chỉ dựa vào lợi thế về thị trường hay chi phí sản xuất, mà cần được hỗ trợ bởi một môi trường kinh doanh thông thoáng, chính sách điều hành linh hoạt và năng lực cạnh tranh ngày càng cao của doanh nghiệp. Chính phủ xác định nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm là tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời triển khai quyết liệt các giải pháp để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Trong đó, xuất khẩu tiếp tục được xác định là một trong những động lực tăng trưởng chủ lực, gắn với việc khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa Việt Nam. Cùng với việc mở rộng thị trường, Chính phủ cũng yêu cầu đẩy mạnh phát triển sản xuất trong nước, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực đầu tư nước ngoài, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Đây là những giải pháp có ý nghĩa lâu dài, giúp nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế và tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững. Từ thực tiễn hoạt động của các ngành hàng xuất khẩu chủ lực có thể thấy, để tận dụng được cơ hội từ quá trình hội nhập, doanh nghiệp không chỉ cần mở rộng thị trường mà còn phải nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đầu tư đổi mới công nghệ và đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Trần Thanh Hải, cho rằng kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm đã tạo nền tảng tích cực để hoạt động xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, doanh nghiệp cần tiếp tục chủ động thích ứng, tận dụng hiệu quả các FTA, đa dạng hóa thị trường và nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa để duy trì đà tăng trưởng. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, mỗi giai đoạn phát triển mới đều đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động xuất khẩu. Nếu trước đây lợi thế chủ yếu đến từ chi phí lao động và quy mô sản xuất thì hiện nay, năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào chất lượng, công nghệ, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng là điều kiện để xuất khẩu không chỉ tăng về lượng mà còn nâng cao giá trị, hiệu quả và sức cạnh tranh.
Xem thêm

Định hình không gian thể chế mở cho Khu thương mại tự do Đà Nẵng

Khu thương mại tự do Đà Nẵng cần bứt phá khỏi lối mòn ưu đãi thuế cũ để kiến tạo một không gian thể chế số, xanh và tích hợp, kết nối mạnh mẽ chuỗi giá trị toàn cầu.   Chuyển từ tư duy ưu đãi thuế sang thể chế số đa tầng Tại Hội thảo Khu thương mại tự do (FTZ) Đà Nẵng và kết nối đầu tư 2026 do Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng tổ chức chiều 13/6 tại TP. Đà Nẵng, ThS. KTS Nguyễn Thu Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Kiến trúc sư Việt Nam cho rằng, cần phải xây dựng FTZ Đà Nẵng như là một không gian kinh tế mở thế hệ mới với cấu trúc đa tầng và đa phương thức. Các chuyên gia, diễn giả thảo luận các xu hướng phát triển FTZ thế hệ mới trên thế giới và cơ hội của Đà Nẵng trong việc hình thành một không gian kinh tế mở, có khả năng kết nối sâu với chuỗi cung ứng toàn cầu Không gian thể chế và chính sách bao gồm tầm nhìn phát triển, tính thử nghiệm của các chính sách, việc áp dụng các cơ chế mới, xây dựng chiến lược thu hút đầu tư thông minh... và đặc biệt là tạo được sự đồng thuận của các nhà đầu tư. “Quan trọng hơn, chúng ta cần nhanh chóng ứng dụng nền kinh tế số để thúc đẩy các động lực phát triển mới, thay vì chỉ dựa vào các thủ tục hành chính hoặc những ưu đãi truyền thống”, ThS. KTS Nguyễn Thu Phong nhận định. Đồng quan điểm, theo TS. Hồ Thị Thu Hòa, Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam, cần thay đổi tư duy định vị FTZ từ góc độ ưu đãi thuế sang một không gian thể chế đặc thù, nơi triển khai các cơ chế thử nghiệm đột phá. TS. Hồ Thị Thu Hòa cũng khẳng định các công nghệ số sẽ “nối liền” và xóa đi rời rạc về địa lý của 7 phân khu chức năng trong FTZ Đà Nẵng. “Những lo ngại về việc bảy phân khu tách biệt về mặt vật lý có thể được giải quyết thông qua môi trường số, hải quan số và dòng dữ liệu số. Đặc biệt, với sự hỗ trợ của các công nghệ mới như AI, IoT, Big Data... chúng ta hoàn toàn có thể bảo đảm dòng thông tin và dữ liệu được liên thông”, TS. Hồ Thị Thu Hòa nói. Từ góc nhìn quốc tế, theo ông Sun Lin, đại diện 58 Group (Trung Quốc) cũng đúc kết bài học cho thấy lộ trình cốt lõi của các FTZ thành công là chuyển từ lợi thế chính sách sang lợi thế thể chế và đổi mới sáng tạo. Ông khuyến nghị Đà Nẵng cần xây dựng cơ chế một cửa tích hợp tất cả thủ tục trên cùng một nền tảng số và đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào vận hành. TP. Đà Nẵng đã tìm được nhà đầu tư hạ tầng trong Khu thương mại tự do Đà Nẵng ở các vị trí số 2, số 3, số 4, số 5. Trong ảnh: Trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư các dự án hạ tầng FTZ Đà Nẵng ở các vị trí số 2, số 3 và số 4 ngày 13/6 Kiến tạo hệ sinh thái xanh gắn kết chuỗi giá trị toàn cầu Theo các chuyên gia, một không gian thể chế mở chỉ thực sự phát huy tối đa giá trị khi được đặt trong một hệ sinh thái tích hợp và hướng tới xu thế phát triển bền vững. TS. Hồ Thị Thu Hòa chỉ ra rằng, động lực lớn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược hiện nay là xu hướng tăng trưởng xanh. FTZ Đà Nẵng cần phát đi thông điệp mạnh mẽ về định hướng xanh và bền vững, tập trung phát triển các dịch vụ logistics giá trị gia tăng cao. Đồng thời, bà Hòa đề xuất mô hình "nhà đầu tư mỏ neo" (anchor investor), những tập đoàn lớn có khả năng dẫn dắt hệ sinh thái, kết nối chuỗi cung ứng và thu hút các doanh nghiệp vệ tinh quốc tế. Bổ sung cho luận điểm này, KTS Nguyễn Thu Phong đề xuất ý niệm tiếp cận dựa trên các dòng chảy chủ đạo gồm dòng chảy giá trị, dòng chảy tri thức và dòng chảy số. FTZ Đà Nẵng phải là nơi hội tụ để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao nhất trên quỹ đất hạn hẹp, thu hút con người tinh hoa và gắn liền với vành đai quản lý xanh (Green Economy). Sự chồng lớp của các chức năng không gian từ cảng biển, công nghệ tương lai đến thương mại quốc tế, sẽ biến FTZ Đà Nẵng từ một khu sản xuất khô cứng thành một hệ sinh thái kinh tế mở năng động trong liên kết vùng. Còn chuyên gia đến từ Trung Quốc, ông Sun Lin khuyến nghị Đà Nẵng nên thúc đẩy mạnh mẽ hệ thống vận tải đa phương thức để kết nối đường bộ, đường sắt, hàng không, đường biển và xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp đầu chuỗi nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng khu vực châu Á - Thái Bình Dương. FTZ Đà Nẵng vị trí số 1 đang được nghiên cứu triển khai đồng bộ với Cảng Liên Chiểu, cảng biển nước sâu chiến lược của quốc gia. Trong ảnh: Khởi công dự án Bến cảng Container Liên Chiểu hồi cuối tháng 4/2026 Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng cho biết, Khu thương mại tự do Đà Nẵng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bức tranh phát triển chung của toàn thành phố. Đây không chỉ là một khu vực phát triển kinh tế, mà là không gian thể chế mới, động lực tăng trưởng mới và là cửa ngõ kết nối Đà Nẵng với các chuỗi sản xuất, thương mại và logistics toàn cầu. Theo lãnh đạo TP. Đà Nẵng, sau một năm kể từ ngày thành lập, Khu thương mại tự do Đà Nẵng đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Những kết quả này cho thấy chủ trương xây dựng Khu thương mại tự do Đà Nẵng là đúng hướng, khả thi và đang từng bước đi vào thực tiễn. “Thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện hạ tầng chiến lược, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, vận hành; đồng thời nghiên cứu mở rộng không gian Khu thương mại tự do về phía Nam để phát huy tối đa lợi thế của thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất”, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng thông tin. Cam kết đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, lãnh đạo TP. Đà Nẵng mong muốn tiếp tục đón nhận những nhà đầu tư có năng lực, có tầm nhìn dài hạn, cùng chung khát vọng xây dựng Khu thương mại tự do Đà Nẵng trở thành hình mẫu phát triển mới của Việt Nam. Khu thương mại tự do Đà Nẵng cần bứt phá khỏi tư duy ưu đãi thuế cũ để kiến tạo một không gian thể chế mở thế hệ mới. Bằng cách ứng dụng công nghệ số kết nối đa tầng giữa các phân khu và xây dựng hệ sinh thái xanh tích hợp, thành phố sẽ thu hút hiệu quả các nhà đầu tư mỏ neo, tối ưu hóa chuỗi cung ứng toàn cầu và tạo động lực tăng trưởng đột phá.
Xem thêm

Giá tiêu hôm nay 28/7/2026: Thị trường khởi sắc, tăng nhẹ 500 đồng/kg

Giá tiêu hôm nay 28/7: Hồ tiêu tại thị trường trong nước đồng loạt tăng nhẹ 500 đồng/kg so với ngày hôm qua, lên mức 138.000 - 141.500 đồng/kg.   Giá tiêu thế giới hôm nay: Tiếp tục đi ngang Cập nhật dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) sáng 28/7/2026, hồ tiêu xuất khẩu hôm nay không ghi nhận phiên điều chỉnh mới. Các thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn tiếp tục duy trì mức giá cũ. Cụ thể, giá tiêu đen Lampung của Indonesia hôm nay được giao dịch ở mức 6.823 USD/tấn, đi ngang so với ngày hôm trước. Tương tự, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia cũng ghi nhận phiên lặng sóng, hiện giao dịch ở mức 9.252 USD/tấn. Giá hồ tiêu Brazil hôm nay cũng không ghi nhận phiên điều chỉnh mới so với ngày hôm qua, giao dịch ở mức 5.700 USD/tấn. Trong khi đó, tại Malaysia, giá tiêu đen ASTA hiện đang giao dịch ở mức 9.350 USD/tấn, đi ngang so với phiên giao dịch trước. Giá tiêu trắng ASTA tại thị trường này trong ngày hôm nay đạt 12.200 USD/tấn, không biến động so với ngày hôm qua. Tương tự, giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam hôm nay cũng không ghi nhận biến động mới, hiện giao dịch ở mức 9.000 USD/tấn.  Giá tiêu đen Việt Nam cũng đồng loạt đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá tiêu đen Việt Nam loại 500 gr/l hiện đạt mức 6.100 USD/tấn, loại 550 gr/l đạt 6.200 USD/tấn. Vườn trồng hồ tiêu tại Lâm Đồng Giá tiêu trong nước hôm nay: Tăng nhẹ 500 đồng/kg Tại thị trường nội địa, giá tiêu hôm nay (28/7) ghi nhận phiên điều chỉnh mới với mức tăng 500 đồng/kg tại nhiều địa phương. Hiện giá hồ tiêu trong nước dao động trong khoảng 138.500 - 141.500 đồng/kg. Cụ thể, giá tiêu Gia Lai và Đồng Nai hôm nay giao dịch ở mức 138.000 đồng/kg, cùng tăng nhẹ 500 đồng/kg so với ngày hôm qua. Đây là mức giá thấp nhất trên cả nước. Tương tự, giá tiêu tại TP. Hồ Chí Minh hiện giao dịch ở mốc 138.500 đồng/kg, cũng tăng nhẹ 500 đồng/kg so với ngày hôm qua. Cùng chiều, hồ tiêu tại Lâm Đồng hôm nay giao dịch ở mốc 141.500 đồng/kg, tăng nhẹ 500 đồng/kg. Đây là mức giá cao nhất trên cả nước hôm nay. Trong khi đó, giá tiêu Đắk Lắk không ghi nhận biến động mới, hiện giao dịch ổn định ở ngưỡng 140.000 đồng/kg. Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, diễn biến giá hạt tiêu nội địa trong tháng 7/2026 cho thấy thị trường đang bước vào giai đoạn ổn định và có xu hướng phục hồi nhẹ, được hỗ trợ bởi nguồn cung trong nước giảm và nhu cầu thu mua phục vụ xuất khẩu duy trì tích cực. Nếu nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu lớn tiếp tục cải thiện trong những tháng tới, giá hạt tiêu trong nước nhiều khả năng sẽ duy trì ở mức cao và có dư địa tăng thêm trong nửa cuối năm 2026. Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong 15 ngày đầu tháng 7/2026, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đạt 9.790 tấn, kim ngạch đạt 64,2 triệu USD, giảm 24,7% về lượng và 24,8% về giá trị so với 15 ngày đầu tháng 6/2026 (12.998 tấn). Sự sụt giảm diễn ra ở hầu hết các chủng loại hồ tiêu, trong đó tiêu đen nguyên hạt vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 7.057 tấn, còn tiêu trắng nguyên hạt giảm mạnh xuống 820 tấn.
Xem thêm

Thủ tục hải quan sẽ chuyển hoàn toàn lên môi trường điện tử

Điểm nổi bật của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan là hướng tới xóa bỏ các thủ tục, hồ sơ giấy, thay vào đó là thực hiện thủ tục hải quan trên môi trường điện tử.   Bám sát những chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang được Bộ Tài chính soạn thảo và xin ý kiến chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp dự kiến sẽ sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 42 điều và bổ sung 4 điều mới. Để làm rõ những điểm mới của Luật Hải quan sửa đổi, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Minh Thảo - Phó trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) bên lề hội thảo “Lấy ý kiến doanh nghiệp về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan” do VCCI phối hợp cùng Bộ Tài chính tổ chức mới đây. - Thưa bà, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang được Bộ Tài chính xin ý kiến được đặt trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và tạo thuận lợi thương mại. Bà đánh giá như thế nào về định hướng sửa đổi này? Bà Nguyễn Minh Thảo: Có thể thấy, dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này đã thể hiện khá rõ những chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước trong thời gian gần đây, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và tạo thuận lợi hơn cho môi trường kinh doanh. Điểm nổi bật là dự thảo hướng tới xóa bỏ các thủ tục, hồ sơ giấy, thay vào đó là thực hiện thủ tục hải quan hoàn toàn trên môi trường điện tử. Đây là bước đi rất quan trọng, phù hợp với xu hướng quản lý hiện đại, đồng thời giúp doanh nghiệp thực hiện thủ tục thuận lợi hơn, minh bạch hơn và giảm chi phí tuân thủ. Bên cạnh đó, dự thảo cũng đề cập đến mô hình hải quan tập trung. Theo tôi, đây là nội dung đáng chú ý, bởi việc tích hợp, chuyên môn hóa các thủ tục hải quan sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện thủ tục, đồng thời hỗ trợ cơ quan hải quan địa phương nâng cao hiệu quả xử lý công việc. Ngoài ra, Luật Hải quan sửa đổi cũng hướng đến quá trình cải cách thủ tục hành chính đó là tiếp tục nâng cấp Cơ chế một cửa quốc gia, tăng cường liên thông và thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử cũng cho thấy định hướng cải cách rất rõ. Khi hồ sơ giấy không còn là phương thức chủ đạo, hệ thống công nghệ thông tin, năng lực phục vụ và sự ổn định của hệ thống hải quan cần được nâng cấp tương ứng. Đây vừa là áp lực, vừa là động lực để ngành hải quan nâng cấp hệ thống, hiện đại hóa mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực thi. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đang được Bộ Tài chính soạn thảo và xin ý kiến chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp. Ảnh minh họa Hài hòa giữa quản lý và thúc đẩy đổi mới - Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này bổ sung nhiều nội dung mới, trong đó có quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua thương mại điện tử và mô hình quản lý tuân thủ. Theo bà, đâu là những vấn đề cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện? Bà Nguyễn Minh Thảo: Trong phạm vi sửa đổi lần này, dự thảo Luật Hải quan đề cập khá nhiều nội dung mới, trong đó có 4 điều được bổ sung thêm, vì vậy cần tiếp tục được nghiên cứu, rà soát kỹ để bảo đảm tính khả thi khi đi vào cuộc sống. Một trong những nội dung cần quan tâm là quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu được mua bán trên nền tảng thương mại điện tử. Đây là yêu cầu cấp thiết cần phải có sự quản lý và đảm bảo tính công bằng, minh bạch, cạnh tranh trong hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, khi xây dựng quy định, cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước để có cách tiếp cận phù hợp. Nhằm mục tiêu là quản lý tốt hơn, nhưng không làm hạn chế những xu hướng phát triển mới, không cản trở các mô hình kinh doanh, mua bán qua sàn thương mại điện tử. Nói cách khác, chính sách cần vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo và các mô hình phát triển phù hợp với xu thế của thế giới. Bên cạnh đó, mô hình quản lý tuân thủ cũng là nội dung cần được hoàn thiện thêm. Về nguyên tắc, doanh nghiệp đều phải tuân thủ pháp luật, nhưng để mô hình này phát huy hiệu quả, cần có tiêu chí rõ ràng, hướng dẫn cụ thể và cơ chế khuyến khích phù hợp. Khi doanh nghiệp thấy rõ lợi ích của việc tuân thủ tốt, họ sẽ có thêm động lực để thực hiện thủ tục chuyên nghiệp hơn, minh bạch hơn. Đây cũng có thể là cơ sở để mở rộng các nhóm doanh nghiệp được hưởng cơ chế thuận lợi, tương tự như doanh nghiệp ưu tiên. - Từ góc nhìn chính sách và cộng đồng doanh nghiệp, bà kỳ vọng Luật Hải quan sửa đổi khi được ban hành sẽ tạo chuyển biến như thế nào trong thực tiễn? Bà Nguyễn Minh Thảo: Với bất kỳ văn bản pháp luật nào, cộng đồng doanh nghiệp và người dân đều mong muốn khi ban hành sẽ đi vào cuộc sống một cách hiệu quả. Luật không chỉ phải đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, mà còn cần giảm chi phí tuân thủ, giảm gánh nặng thủ tục cho người dân và doanh nghiệp. Đối với dự thảo Luật Hải quan sửa đổi lần này, kỳ vọng lớn nhất là các thủ tục sẽ được đơn giản hóa hơn, thực hiện nhiều hơn trên môi trường điện tử, từ đó giảm thời gian, chi phí và những vướng mắc phát sinh trong quá trình làm thủ tục hải quan. Khi thủ tục hành chính được cải cách, điều kiện thực hiện được đơn giản hóa, hệ thống hải quan vận hành ổn định, minh bạch hơn, doanh nghiệp sẽ có thêm niềm tin và động lực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động xuất nhập khẩu, một lĩnh vực có vai trò rất lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế. Tôi cho rằng, nếu được hoàn thiện tốt và triển khai hiệu quả, Luật Hải quan sửa đổi sẽ không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập ngày càng sâu rộng. - Xin cảm ơn bà! Ông Nguyễn Thành Hưng - Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính): Dự thảo Luật Hải quan lần này dự kiến sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 42 điều và bổ sung 4 điều mới. Đây là bước đi pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa và thể chế hóa các nghị quyết lớn của Bộ Chính trị, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây d
Xem thêm

Bộ Công Thương làm việc với Lạng Sơn về triển khai chiến lược phát triển logistics

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) và tỉnh Lạng Sơn cùng rà soát việc triển khai Chiến lược phát triển logistics, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng, quy hoạch và chuyển đổi số. Lợi thế cửa ngõ tạo dư địa lớn cho logistics Lạng Sơn Sáng 9/7, tại Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) tổ chức chương trình làm việc với các sở, ngành và doanh nghiệp của tỉnh nhằm đánh giá tình hình triển khai Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Cục Xuất nhập khẩu làm việc với các sở, ngành và doanh nghiệp của tỉnh Lạng Sơn nhằm đánh giá tình hình triển khai Quyết định số 2229/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Ảnh: Quỳnh Trang Đoàn công tác do ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu làm Trưởng đoàn; cùng dự còn có đại diện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, Hiệp hội Phát triển nhân lực Logistics Việt Nam cùng lãnh đạo các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, Chi cục Hải quan khu vực VI và nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, logistics trên địa bàn tỉnh. Theo báo cáo của Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn, 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu qua địa bàn đạt 57,69 tỷ USD, tăng 42% so với cùng kỳ năm trước; tổng lượng phương tiện chở hàng xuất nhập khẩu đạt 322.845 lượt xe, tăng 18%, bình quân khoảng 1.850 xe/ngày. Những con số này tiếp tục khẳng định vai trò của Lạng Sơn là cửa ngõ giao thương quan trọng giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như khu vực ASEAN. Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu. Ảnh: Quỳnh Trang Phát biểu tại buổi làm việc, ông Trần Thanh Hải đánh giá Lạng Sơn là địa phương có nhiều lợi thế để phát triển logistics nhờ hệ thống cửa khẩu, vị trí địa lý và tốc độ tăng trưởng thương mại biên giới. "Đây rõ ràng là thế mạnh mà chúng ta cần tiếp tục phát huy và cũng không thể bằng lòng với kết quả như hiện nay. Kết quả hiện nay là đáng ghi nhận nhưng nếu nói về mức độ bền vững và tăng trưởng lâu dài thì rõ ràng cần có sự tác động, trước hết là từ các cơ quan hoạch định chính sách cũng như cơ quan quản lý nhà nước", ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh. Theo Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, hạ tầng là nền tảng của phát triển logistics. Đối với Lạng Sơn, mặc dù không có lợi thế về đường hàng không hay đường thủy nhưng lại sở hữu hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đặc biệt là hệ thống cửa khẩu lớn nhất trên tuyến biên giới phía Bắc. Trong giai đoạn 5-10 năm tới, hạ tầng logistics tiếp tục được xác định là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của Lạng Sơn. Tuy nhiên, cùng với đầu tư hệ thống cửa khẩu, kho bãi và các trung tâm logistics quy mô lớn, quy hoạch cần đi trước một bước, bám sát xu hướng logistics thông minh, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực xử lý hàng hóa, thay vì chỉ mở rộng quy mô kho bãi theo cách truyền thống. Ông Hoàng Khánh Duy, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn. Ảnh: Quỳnh Trang Báo cáo tại buổi làm việc, ông Hoàng Khánh Duy, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn cho biết, tỉnh tiếp tục xác định logistics và kinh tế cửa khẩu là lĩnh vực động lực, tập trung phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ và thông minh; ưu tiên phát triển các dịch vụ logistics, vận tải xuyên biên giới, kho bãi, kho lạnh, kho ngoại quan, trung chuyển hàng hóa và các dịch vụ hỗ trợ thương mại, từng bước hình thành các khu chức năng logistics gắn với cửa khẩu, khu công nghiệp và khu thương mại tự do. Theo kế hoạch, đến năm 2030, Lạng Sơn phấn đấu đưa dịch vụ logistics đóng góp khoảng 2,8-3% GRDP, tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 12%/năm, trên 70% doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài, đồng thời hình thành hệ thống hạ tầng logistics hiện đại gắn với cửa khẩu thông minh và các cảng cạn trên địa bàn. Tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và chuyển đổi số Bên cạnh những kết quả đạt được, nhiều ý kiến tại buổi làm việc cũng chỉ ra không ít điểm nghẽn đang ảnh hưởng đến sự phát triển của logistics địa phương. Đại diện Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn. Ảnh: Quỳnh Trang Đại diện Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn cho biết, mặc dù hạ tầng tại một số cửa khẩu như Bình Nghi và Chi Ma đã được đầu tư khá đồng bộ, song vẫn còn nhiều vướng mắc về cơ chế. "Hiện nay, cửa khẩu Bình Nghi cũng đã được đầu tư đồng bộ, từ nhà kiểm hóa đến 4 bến bãi, trong đó có một bãi có diện tích trên 20 ha. Tuy nhiên, không có lối thông quan, đây cũng là một bất cập", đại diện Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn nêu thực tế và kiến nghị các bộ, ngành tiếp tục hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc về cơ chế thông quan, tạo điều kiện khai thác hiệu quả hạ tầng đã được đầu tư. Đại diện Chi cục Hải quan khu vực VI phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: Quỳnh Trang Trong khi đó, đại diện Chi cục Hải quan khu vực VI nhận định tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu của Lạng Sơn đang rất cao nhưng dịch vụ logistics mới chủ yếu phát triển ở các khâu kho bãi, bốc xếp và vận tải, trong khi các dịch vụ logistics tích hợp, đại lý hải quan và chuỗi dịch vụ trọn gói vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Hiện chỉ khoảng 7-10% doanh nghiệp thực hiện mở tờ khai hải quan tại Lạng Sơn, cho thấy tiềm năng mở rộng các dịch vụ logistics giá trị gia tăng vẫn còn rất lớn. Chuyển đổi số được xác định là một trong những động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động logistics. Trong đó, việc xây dựng cửa khẩu thông minh không chỉ dừng ở đầu tư hạ tầng kỹ thuật mà còn đòi hỏi sự đồng bộ về hạ tầng dữ liệu, bảo đảm kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chức năng trong nước cũng như với phía Trung Quốc. Đây được xem là yếu tố then chốt để rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí logistics và từng bước hiện thực hóa mô hình "một điểm dừng" trong hoạt động xuất nhập khẩu. Cùng với đó, Cục Xuất nhập khẩu đang triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về logistics, tích hợp các thông tin về thống kê, dự báo thị trường, nguồn hàng, cước vận tải và nhiều dữ liệu chuyên ngành khác. Khi hoàn thành, hệ thống sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp khai thác thông tin, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh và tổ chức chuỗi cung ứng hiệu quả hơn. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu từ các địa phương, trong đó có Lạng Sơn, sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để cơ sở dữ liệu phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Kết luận buổi làm việc, ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh, mục tiêu cuối cùng không chỉ là ban hành các kế hoạch hay chiến lược mà phải đưa logistics trở thành ngành kinh tế mũi nhọn bằng những hành động cụ thể như hoàn thiện quy hoạch, phát triển hạ tầng, đẩy mạnh chuyển đổi số, thu hút đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của chuỗi logistics quốc gia. Phát triển logistics đòi hỏi cách tiếp cận đồng bộ, từ quy hoạch, hạ tầng giao thông, cửa khẩu, chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu đến phát triển dịch vụ logistics giá trị gia tăng. Khi các yếu tố này được kết nối hiệu quả, lợi thế cửa ngõ của Lạng Sơn sẽ được chuyển hóa thành động lực tăng trưởng, không chỉ cho địa phương mà còn cho hoạt động xuất nhập khẩu của cả khu vực phía Bắc.
Xem thêm

Giá vàng hôm nay (28/7): Vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay (28/7) trên thị trường thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp.   Giá vàng hôm nay trên thế giới Hiện giá vàng thế giới ghi nhận lúc 4h30 hôm nay theo giờ Việt Nam giao ngay ở mức 4,071 USD/ounce. Giá vàng hôm nay tăng 0,49% so với hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (26.302 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 129 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 14 triệu đồng/lượng. Diễn biến giá vàng thế giới trong 24h qua. Giá vàng thế giới bước vào tuần với nhiều yếu tố tạo ra biến động mạnh. Sau khi tăng lên 4.091,7 USD/ounce trong sáng 27.7, kim loại quý đang thử thách vùng cản quan trọng, khi nhà đầu tư chờ các quyết định chính sách tiền tệ và dữ liệu kinh tế lớn. Tâm điểm là cuộc họp của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed). Không chỉ quyết định lãi suất, đánh giá của Fed về lạm phát, tăng trưởng và định hướng điều hành có thể tác động đến đồng USD, lợi suất trái phiếu và giá vàng. Tín hiệu tiếp tục duy trì chính sách thắt chặt có thể khiến vàng chịu áp lực. Ngược lại, quan điểm mềm mỏng hơn sẽ hỗ trợ nhu cầu nắm giữ kim loại quý. Bên cạnh Fed, thị trường cũng theo dõi quyết định của Ngân hàng Trung ương Anh và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản. Loạt số liệu của Mỹ gồm niềm tin người tiêu dùng, tăng trưởng GDP, chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân và số đơn xin trợ cấp thất nghiệp sẽ cung cấp căn cứ đánh giá triển vọng lãi suất. Về mặt kỹ thuật, vàng đã giữ được vùng hỗ trợ quanh 4.000 USD/ounce trong nhiều tuần. Đây là mốc quan trọng đối với xu hướng ngắn hạn. Ở chiều ngược lại, khu vực 4.080-4.140 USD/ounce được xem là vùng cản. Việc giá duy trì trên 4.100 USD/ounce có thể mở rộng đà tăng, trong khi thất bại tại vùng này có thể kéo theo hoạt động chốt lời. Trong khi đó, lợi suất trái phiếu Mỹ giảm và nhu cầu trú ẩn trước rủi ro địa chính trị đang hỗ trợ vàng. Tuy nhiên, đồng USD ở vùng cao, khả năng lãi suất duy trì lâu hơn và giá năng lượng biến động vẫn là những lực cản. Triển vọng dài hạn của vàng vẫn được hỗ trợ bởi hoạt động mua vào của các ngân hàng trung ương, nhu cầu đa dạng hóa tài sản và những bất ổn địa chính trị. Dù vậy, chuyên gia phân tích Peter Reagan cảnh báo nhà đầu tư không nên chạy theo những dự báo vàng có thể tăng lên 6.000-10.000 USD/ounce mà bỏ qua rủi ro điều chỉnh. Ở góc độ khác, một số chuyên gia cho rằng căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông vẫn là yếu tố có thể hỗ trợ giá vàng trong dài hạn. Bà Nguyễn Thu Lan - Trưởng bộ phận Nghiên cứu Hàng hóa tại Commerzbank nhận định, nếu xung đột leo thang dẫn đến nguy cơ đóng cửa eo biển Hormuz hoặc trong kịch bản xấu hơn là eo biển Bab al-Mandab, thị trường năng lượng toàn cầu có thể rơi vào khủng hoảng, kéo theo nguy cơ suy giảm kinh tế. Trong trường hợp đó, vàng có thể hưởng lợi khi các ngân hàng trung ương buộc phải chuyển sang nới lỏng chính sách để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, giá năng lượng tăng sẽ làm lạm phát tiếp tục gia tăng, khiến các ngân hàng trung ương ưu tiên kiểm soát lạm phát, qua đó tạo áp lực nhất định đối với giá vàng. Giá vàng trong nước hôm nay Giá vàng miếng SJC tiếp tục tăng tại phần lớn doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh từ 1,5-2 triệu đồng/lượng. Giá bán ra phổ biến lên 143 triệu đồng/lượng, trong khi DOJI ghi nhận mức cao nhất 144,2 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), giá vàng miếng cùng tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước, lên 139 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch mua - bán duy trì ở mức 4 triệu đồng/lượng. DOJI điều chỉnh tăng mạnh hơn khi cộng thêm 1,7 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều. Giá vàng miếng tại đây hiện ở mức 140,2 triệu đồng/lượng mua vào và 144,2 triệu đồng/lượng bán ra, cao nhất trong nhóm được cập nhật. Chênh lệch mua - bán là 4 triệu đồng/lượng. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng miếng tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 139 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra. Mức chênh lệch mua - bán là 4 triệu đồng/lượng. Phú Quý cũng tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá vàng miếng lên 139-143 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Mạnh Hải và PNJ Hà Nội cùng niêm yết giá vàng miếng ở mức 139 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 1,5 triệu đồng/lượng mỗi chiều so với phiên trước. Trong khi đó, Mi Hồng ghi nhận mức thu mua cao nhất với 140,5 triệu đồng/lượng, tăng 2 triệu đồng/lượng. Giá bán ra ở mức 142 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán chỉ 1,5 triệu đồng/lượng, thấp hơn đáng kể so với các thương hiệu còn lại. Vàng miếng Ngày 27/7 Sáng 28/7 Chênh lệch Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Triệu đồng/lượng Triệu đồng/lượng Nghìn đồng/lượng SJC 137,5 141,5 139 143 +1500 +1500 Tập đoàn DOJI 138,5 142,5 140,2 144,2 +1700 +1700 PNJ 137,5 141,5 139 143 +1500 +1500 Bảo Tín Minh Châu 137,5 141,5 139 143 +1500 +1500 Bảo Tín Mạnh Hải 135,5 139,5 139 143 +3500 +3500 Phú Quý 137,5 141,5 139 143 +1500 +1500 Mi Hồng 138,5 140 140,5 142 +2000 +2000 Bảng giá vàng miếng trong nước cập nhật sáng ngày 28/7 Giá vàng hôm nay ngày 28/7/2026. Ảnh: P.C Giá vàng nhẫn tại SJC niêm yết vàng nhẫn 9999 ở mức 138,5 triệu đồng/lượng mua vào và 142,5 triệu đồng/lượng bán ra, chênh lệch 4 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Mạnh Hải giao dịch vàng nhẫn ở mức 139-143 triệu đồng/lượng, trong khi DOJI đưa giá nhẫn Hưng Thịnh Vượng 9999 lên 140,2-144,2 triệu đồng/lượng. Cả hai thương hiệu đều duy trì khoảng cách mua - bán 4 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu tiếp tục dẫn đầu nhóm được cập nhật về giá vàng nhẫn. Vàng Rồng Thăng Long 9999 được mua vào ở mức 140,3 triệu đồng/lượng và bán ra 144,2 triệu đồng/lượng, chênh lệch 3,9 triệu đồng/lượng. Tại Phú Quý, giá vàng nhẫn 9999 được niêm yết ở mức 139 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra, chênh lệch 4 triệu đồng/lượng. PNJ hiện mua vàng nhẫn ở mức 137,6 triệu đồng/lượng và bán ra 142,6 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán lên tới 5 triệu đồng/lượng, cao nhất trong nhóm được cập nhật. Vàng nhẫn Ngày 27/7 Sáng 28/7 Chênh lệch Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Triệu đồng/lượng Triệu đồng/lượng Nghìn đồng/lượng SJC 136,5 141 138,5 142,5 +2000 +1500 Tập đoàn DOJI 140 144 140,2 144,2 +200 +200 PNJ 135,5 140,5 137,6 142,6 +2100 +2100 Bảo Tín Minh Châu 139,3 143,2 140,3 144,2 +1000 +1000 Bảo Tín Mạnh Hải 139 143 139 143 - - Phú Quý 138 142,5 139 143 +1000 +500 Mi Hồng 138 140,5 140,3 142,5 +2300 +2000 Bảng giá vàng nhẫn trong nước cập nhật sáng ngày 28/7
Xem thêm

Thương vụ phát huy vai trò cảnh báo sớm cho doanh nghiệp

Không chỉ cung cấp thông tin, thương vụ còn đóng vai trò như một “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp nhận diện các rủi ro tiềm ẩn trong thương mại quốc tế.   Thương mại tăng trưởng nhưng biến động mạnh Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng biến động khó lường, vai trò của hệ thống thương vụ Việt Nam tại nước ngoài đang chuyển dịch mạnh mẽ, từ “cầu nối xúc tiến thương mại, đầu tư” sang “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro và chủ động thích ứng. Thị trường Philippines là một ví dụ điển hình cho xu hướng này. Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Phú Cường - Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Philippines cho biết, trong hai tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đạt 1,29 tỷ USD, giảm nhẹ 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đạt 880,7 triệu USD, tăng 3,9%, trong khi nhập khẩu từ Philippines giảm mạnh 9,3%, xuống còn 409,6 triệu USD. Nhờ đó, cán cân thương mại tiếp tục nghiêng về phía Việt Nam với mức thặng dư 471,1 triệu USD, tăng 19,1%. Thương vụ Việt Nam tại Philippines kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở gian hàng trưng bày, quảng bá sản phẩm tại các hội chợ, triển lãm tại Philippines. Ảnh: Thành Văn Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là sự biến động đáng chú ý trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu. Các nhóm mặt hàng xuất khẩu ghi nhận xu hướng “phân hóa mạnh” với nhiều ngành tăng trưởng cao nhưng cũng không ít lĩnh vực suy giảm sâu. Dẫn chứng cụ thể, thương vụ cho biết, gạo tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng đến 9,9% sau khi Philippines dỡ bỏ lệnh tạm dừng nhập khẩu từ cuối năm 2025, chiếm tới 35,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này. Sự phục hồi này không chỉ giúp Việt Nam giữ vững thị phần mà còn gia tăng lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ. Ngược lại, xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực sang thị trường Philippines lại sụt giảm đáng kể. Clanhke và xi măng giảm tới 59,2% do tác động của biện pháp tự vệ từ nước này. Điện thoại và linh kiện giảm 5,7%. Các nhóm hàng tiêu dùng như cà phê, giày dép, dệt may lần lượt giảm 23,9%, 9,2% và 32,4%. Tham tán thương mại Lê Phú Cường cho rằng, những con số này cho thấy một thực tế rõ ràng, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường Philippines với hơn 115 triệu dân và thị trường có cơ cấu dân số trẻ và sức tiêu dùng lớn. Ở chiều nhập khẩu, cơ cấu cũng có sự dịch chuyển đáng kể. Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm tỷ trọng lớn nhất (65,8%) nhưng chỉ tăng nhẹ 6,4%. Trong khi đó, các mặt hàng như phế liệu sắt thép và chất dẻo nguyên liệu lại tăng đột biến từ 6 - 7 lần, phản ánh nhu cầu nguyên liệu đầu vào trong nước đang thay đổi nhanh chóng. Theo đánh giá của thương vụ, những biến động trên không đơn thuần là điều chỉnh cung - cầu, mà phản ánh tác động đa chiều từ bối cảnh kinh tế khu vực và toàn cầu. Xung đột tại Trung Đông từ cuối tháng 2/2026 đã đẩy giá dầu lên mức 120 - 130 USD/thùng, khiến chi phí logistics tăng mạnh. Philippines phải duy trì tình trạng khẩn cấp năng lượng, kéo theo chi phí nhập khẩu tăng và trực tiếp làm giảm biên lợi nhuận của hàng hóa Việt Nam. Bên cạnh đó, khả năng Ngân hàng Trung ương Philippines tăng lãi suất để bảo vệ đồng Peso sẽ khiến tiêu dùng nội địa bị thắt chặt. Đây là yếu tố bất lợi đối với các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, đồ gỗ. Đối với mặt hàng gạo, trụ cột xuất khẩu trong ngắn hạn cũng đối mặt thách thức. Philippines dự kiến hạn chế nhập khẩu trong tháng 3 và 4 xuống còn 150 nghìn tấn/tháng, thay vì khoảng 400 nghìn tấn trước đó, do bước vào vụ thu hoạch nội địa. Đáng chú ý, việc Philippines sử dụng công cụ cấp phép Thông quan nhập khẩu kiểm dịch động thực vật - SPSIC (Sanitary and Phytosanitary Import Clearance) như một biện pháp kiểm soát định lượng cho thấy xu hướng điều hành nhập khẩu ngày càng chặt chẽ hơn. Những diễn biến này cho thấy thị trường Philippines đang chuyển từ “dễ đoán” sang “biến động có điều kiện”, nơi tăng trưởng luôn đi kèm với rủi ro chính sách và chi phí. Từ xúc tiến đến “cảnh báo sớm” Trước những diễn biến phức tạp tại thị trường Philippines, ông Lê Phú Cường cho rằng, vai trò của thương vụ không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xử lý các vụ việc pháp lý, làm việc với các cơ quan chức năng sở tại và tìm kiếm giải pháp phù hợp. Việc cảnh báo sớm các nguy cơ điều tra phòng vệ thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh hoạt động sản xuất và xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro. Thực tế, những cảnh báo về việc Philippines siết nhập khẩu gạo theo mùa vụ, áp trần giá gạo lên tới 50 peso/kg, nguy cơ tăng lãi suất hay chi phí logistics leo thang… đã giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro về tồn kho, chậm dòng tiền hay đàm phán bất lợi. Không dừng lại ở đó, vừa qua, Bộ Thương mại và Công nghiệp Philippines đã khởi xướng điều tra tự vệ đối với sản phẩm gạch men nhập khẩu (mã HS 690722 và 690723). Đây là mặt hàng từng nhiều lần bị điều tra trong quá khứ. Việc nhận diện sớm giúp doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị hồ sơ, điều chỉnh chiến lược hoặc đa dạng hóa thị trường, thay vì bị động khi vụ việc leo thang. Không chỉ cung cấp thông tin, thương vụ đóng vai trò như một “hệ thống cảnh báo sớm” giúp doanh nghiệp giảm rủi ro trong thương mại quốc tế. Không chỉ thị trường Philippines gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại, ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng cho biết, nước này là thị trường có số lượng vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam lớn nhất. Vì vậy, nhiệm vụ nhận diện rủi ro, cảnh báo sớm hỗ trợ rất lớn cho doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp chủ động điều tiết kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15 - 16% và GDP tăng trưởng hai con số. Hiện thực hóa các mục tiêu trên, hệ thống hơn 60 thương vụ Việt Nam tại nước ngoài đang được xác định là lực lượng “tiền tuyến”. Không chỉ là kênh xúc tiến, thương vụ đang chuyển sang cung cấp thông tin chuyên sâu, có phân tích và dự báo, giúp doanh nghiệp xây dựng “bản đồ rủi ro” khi tiếp cận thị trường quốc tế. Nhìn từ thị trường Philippines, một thực tế đang dần rõ nét, rủi ro không còn là yếu tố bất ngờ, mà đã trở thành “trạng thái bình thường mới” của thương mại quốc tế. Trong bối cảnh đó, lợi thế không thuộc về doanh nghiệp đi nhanh nhất, mà thuộc về doanh nghiệp nhìn thấy rủi ro sớm nhất và phản ứng kịp thời nhất. Ở tuyến đầu của quá trình đó, hệ thống thương vụ chính là “tai mắt thị trường”, không chỉ mở đường, mà còn cảnh báo để doanh nghiệp đi đúng hướng, đi chắc và đi xa. Trong hai tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 155,7 tỷ USD, tăng 22,2%. Đà tăng trưởng này đặt ra yêu cầu mới cho doanh nghiệp nước nhà, không chỉ mở rộng quy mô mà còn nâng cao chất lượng và khả năng thích ứng với biến động thị trường quốc tế. Ở góc độ doanh nghiệp, việc tận dụng hiệu quả thông tin từ thương vụ sẽ quyết định khả năng trụ vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Xem thêm

Việt Nam và Cuba thúc đẩy quan hệ hợp tác đặc biệt trong bối cảnh mới

Từ ngày 20-22/6, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thăm Cuba với tư cách Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.   Theo phóng viên TTXVN tại La Habana, từ ngày 20-22/6, đồng chí Lê Hoài Trung - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thăm Cộng hòa Cuba với tư cách Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, thông báo với Đảng Cộng sản Cuba về kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và trao đổi về tình hình hợp tác giữa hai Đảng, hai nước. Trong khuôn khổ chuyến thăm, đồng chí Lê Hoài Trung đã có các cuộc hội kiến Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel, Thủ tướng Manuel Marrero Cruz, hội đàm với Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bruno Rodriguez Parrilla và thông báo kết quả Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam vào sáng 22/6 tại Hội nghị do Trung ương Đảng Cộng sản Cuba tổ chức, với sự chủ trì của Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba Miguel Diaz-Canel và sự tham dự của đông đảo các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Lê Hoài Trung trân trọng chuyển thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Đại tướng Raul Castro Ruz và Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Cuba Diaz-Canel, chuyển lời thăm hỏi của các đồng chí Lãnh đạo cấp cao của Việt Nam tới các đồng chí lãnh đạo Cuba; khẳng định sự quan tâm sâu sắc và lập trường nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tăng cường đoàn kết, ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân Cuba, quyết tâm đồng hành, cùng Cuba thúc đẩy hợp tác anh em vì sự phát triển của mỗi nước, hòa bình, ổn định trên thế giới. Trên cơ sở văn kiện Đại hội XIV, các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội XIV và Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, đồng chí Lê Hoài Trung đã thông tin toàn diện về các vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam và các bài học kinh nghiệm rút ra. Chia sẻ những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội và tình hình tổng thể thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí cũng giới thiệu về các mục tiêu, định hướng lớn, các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược được Đại hội XIV thông qua nhằm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phấn đấu thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và 2045. Đồng chí Lê Hoài Trung đồng thời đánh giá cao những biện pháp chuyển đổi toàn diện, đặc biệt là về kinh tế, mà Hội nghị bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba và Quốc hội Cuba vừa thông qua. Bộ trưởng Lê Hoài Trung khẳng định Việt Nam tin tưởng với bản lĩnh cách mạng, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Cuba dưới sự lãnh đạo của đồng chí Raul Castro và Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Diaz-Canel, Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba anh em sẽ vượt qua những khó khăn, thách thức hiện nay, tiếp tục đưa cách mạng Cuba tiến lên, vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Tại các cuộc tiếp, hội đàm với đoàn công tác của Đảng, Nhà nước Việt Nam, các đồng chí Lãnh đạo Cuba bày tỏ vui mừng và trân trọng trước việc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cử Đặc phái viên sang Cuba thông báo về kết quả Đại hội XIV, cho rằng điều đó thể hiện sự tin cậy đặc biệt và quan hệ thắm tình đồng chí, anh em giữa hai Đảng, hai nước, nhân dân nước, là sự kiện rất có ý nghĩa trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực hiện nay. Các đồng chí Lãnh đạo Cuba nhấn mạnh luôn quan tâm và sẽ tiếp tục tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác giữa hai nước phát triển toàn diện trên các lĩnh vực và đạt được những kết quả quan trọng mới, đáp ứng thiết thực lợi ích của nhân dân hai nước. Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tái khẳng định sự đoàn kết Việt Nam - Cuba. (Ảnh: Việt Hùng/TTXVN) Đồng chí Miguel Diaz-Canel và đồng chí Thủ tướng Manuel Marrero Cruz gửi lời thăm hỏi thân tình tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và các đồng chí Lãnh đạo cấp cao Việt Nam; bày tỏ những ấn tượng sâu sắc, tốt đẹp về truyền thống cách mạng, anh hùng, các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; cho rằng những bài học quan trọng cả về lý luận và thực tiễn của Việt Nam qua 40 năm Đổi mới là rất có giá trị để Cuba tham khảo trong quá trình đưa ra các biện pháp chuyển đổi toàn diện vừa qua. Các đồng chí Lãnh đạo Cuba đánh giá cao các kết quả đáng phấn khởi về hợp tác các mặt giữa hai nước thời gian qua, nhất là về nông nghiệp, thuỷ sản, được sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và sự quyết liệt triển khai của các cơ quan liên quan của cả hai bên. Hai bên cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy trao đổi các đoàn cấp cao, hợp tác giữa các cơ quan liên quan. Trong năm 2026 là dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Lãnh tụ Fidel Castro, hai bên cũng thống nhất phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm quan trọng, nhiều ý nghĩa, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh giao lưu nhân dân và thế hệ trẻ hai nước. Hai bên khẳng định cần phát huy vai trò của các cơ chế hợp tác song phương, tiếp tục phối hợp ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết. Trong chuyến công tác, đồng chí Lê Hoài Trung cũng đã đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm Anh hùng dân tộc Cuba José Martí, Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thủ đô La Habana; thăm và nói chuyện với cộng đồng người Việt Nam và Đại sứ quán Việt Nam tại Cuba; thăm các dự án nông nghiệp, lúa gạo, sản xuất nhu yếu phẩm của doanh nghiệp Việt Nam tại Cuba. Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, để lại dấu ấn đậm nét về tình đoàn kết, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai nước và quyết tâm chung trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác đặc biệt giữa hai nước trong thời gian tới.
Xem thêm

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức cao mới vào năm 2026

Giá nhà ở Canada có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê tại Canada tăng trong năm 2023 - Ảnh minh họa: besthomesbc.com Theo báo cáo về triển vọng thị trường nhà ở mới nhất của Tập đoàn Nhà ở và Thế chấp (CMHC) của Canada, giá nhà có thể đạt mức đỉnh tương tự như năm 2022 vào năm tới và đạt mức cao mới vào năm 2026. Số lượng nhà cho thuê trên thị trường tăng trong năm 2023, nguồn cung được dự báo không theo kịp nhu cầu, dẫn đến giá thuê cao hơn và tỉ lệ nhà trống thấp hơn trong những năm tới. Chuyên gia kinh tế trưởng Bob Dugan của CMHC cho biết các điều kiện tài chính không thuận lợi sẽ khiến các công ty xây dựng nhà gặp khó khăn hơn, trong việc bắt đầu các dự án cho thuê mới vào năm 2024. Nhưng đến năm 2025-2026, lãi suất sẽ thấp, sự hỗ trợ liên tục của chính phủ và các chính sách khuyến khích mật độ dân số cao ở các trung tâm đô thị sẽ khiến nhiều dự án trở nên khả thi hơn. Theo CMHC, trong ba năm tới, lãi suất thế chấp giảm và tốc độ tăng dân số mạnh nhất của đất nước kể từ những năm 1950 có thể sẽ thúc đẩy doanh số bán và giá nhà phục hồi. Tính đến cuối năm 2023, doanh số bán nhà đã giảm khoảng 1/3 so với mức đỉnh điểm vào đầu năm 2021. Khi lãi suất thế chấp và sự không chắc chắn về kinh tế giảm vào nửa cuối năm 2024, người mua sẽ bắt đầu quay trở lại thị trường. Sự trỗi dậy này cũng sẽ được thúc đẩy bởi sự thay đổi nhu cầu đối với những ngôi nhà và giá thấp hơn trên thị trường khắp Canada. CMHC dự đoán hoạt động bán hàng từ năm 2025 - 2026 sẽ vượt qua mức trung bình 10 năm qua một chút, nhưng vẫn ở dưới mức kỷ lục được ghi nhận từ năm 2020 đến năm 2021, do giá nhà ở vẫn còn đắt đỏ. Số lượng nhà mới xây ở Canada dự kiến sẽ giảm trong năm nay, trước khi phục hồi vào năm 2025 và 2026, phản ánh tác động trễ của lãi suất cao hơn đối với hoạt động xây dựng mới. Một báo cáo tuần trước của cơ quan này cho thấy 137.915 căn hộ mới đã được khởi công xây dựng trong năm 2023 trên sáu thành phố lớn nhất của Canada, gần tương đương với mức của ba năm qua.
Xem thêm

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG

6 tháng, ngành dệt may xuất siêu khoảng 10 tỷ USD

6 tháng đầu năm 2026, ngành dệt may xuất siêu khoảng 10 tỷ USD, Hoa Kỳ, EU vẫn là hai thị trường lớn và duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của ngành.   Hiệp hội Dệt may Việt Nam thông tin, kim ngạch xuất khẩu dệt may 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 22,2 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xơ sợi, vải, phụ liệu và vải không dệt duy trì tăng trưởng khá (từ 5,6% đến 10,6%), trong khi hàng may mặc giảm nhẹ 0,4% do sức mua tại các thị trường lớn chưa phục hồi mạnh. 6 tháng đầu năm 2026, ngành dệt may Việt Nam xuất siêu khoảng 10 tỷ USD. Ảnh: Nguyễn Nam Về thị trường (số liệu 5 tháng), Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất, đạt 6,81 tỷ USD (tăng 1,3%, chiếm khoảng 45%); EU là điểm sáng với 1,94 tỷ USD (tăng 8,8%); Nhật Bản và Hàn Quốc giảm lần lượt 6,2% và 8,9%. Ngành tiếp tục xuất siêu, ước đạt gần 10 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm. Hiệp hội Dệt may Việt Nam nhận định, bên cạnh những kết quả tích cực, ngành đang đối mặt nhiều thách thức, trong đó sức mua tại các thị trường lớn phục hồi chậm; cạnh tranh gay gắt về giá; phụ thuộc 60-70% nguyên phụ liệu nhập khẩu; chi phí tuân thủ ESG (xã hội, môi trường, quản trị), truy xuất nguồn gốc gia tăng và rủi ro chính sách thương mại… “Ngành dệt may Việt Nam không còn nhiều dư địa tăng trưởng theo quy mô. Chặng đường sắp tới đòi hỏi chúng ta chuyển hướng sang nâng cao năng suất, giá trị gia tăng, chủ động nguyên phụ liệu, đa dạng hóa thị trường và đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đây cũng là lý do Hiệp hội tái định vị mô hình hoạt động theo các trụ cột chiến lược của ngành”, ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam nhấn mạnh tại cuộc họp Ban Chấp hành lần thứ II nhiệm kỳ VII (2025-2030) của Hiệp hội Dệt may Việt Nam diễn ra ngày 3/7 vừa qua. Với kết quả 6 tháng đạt 22,2 tỷ USD, ngành dệt may phấn đấu duy trì kim ngạch bình quân trên 4 tỷ USD/tháng để hướng tới mục tiêu khoảng 48 tỷ USD cả năm 2026. Các nhóm giải pháp trọng tâm được Hiệp hội đề ra gồm: Thích ứng với phương thức mua hàng mới của các nhãn hàng toàn cầu; ưu tiên phát triển nguyên phụ liệu trong nước; đa dạng hóa thị trường, khách hàng và mặt hàng; chủ động ứng phó rủi ro pháp lý; đẩy mạnh đầu tư công nghệ, tự động hóa và chuyển đổi số.
Xem thêm

Xuất khẩu nông sản cần chủ động thích ứng quy định SPS mới của EU, Anh

Việc cập nhật kịp thời các quy định SPS, EUDR và tiêu chuẩn kỹ thuật mới sẽ giúp xuất khẩu nông sản giảm rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường EU và Anh.   SPS trở thành 'tấm vé thông hành' vào thị trường EU và Anh Ngày 24/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị cập nhật các quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland (UKVFTA). Xu hướng siết chặt tiêu chuẩn SPS của EU đòi hỏi doanh nghiệp kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu, chủ động thích ứng để duy trì lợi thế xuất khẩu. Phát biểu khai mạc hội nghị, ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam cho biết, việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs) đã mở ra cơ hội lớn để nông sản, thực phẩm Việt Nam mở rộng thị trường, đặc biệt tại các thị trường có giá trị cao như Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Anh. Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm thách thức. Theo đó, cùng với ưu đãi thuế quan, các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu khắt khe về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động, thực vật, truy xuất nguồn gốc, ghi nhãn, bao bì, quản lý vùng nguyên liệu và cơ sở chế biến. "Đáp ứng các quy định SPS hiện không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để duy trì thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững ngành nông nghiệp", ông Ngô Hồng Phong nhấn mạnh. Theo ông Phong, xu hướng thương mại nông sản toàn cầu đang chuyển mạnh sang các tiêu chuẩn minh bạch, chuẩn hóa và kiểm soát chất lượng trên toàn chuỗi giá trị. Do đó, việc thực thi hiệu quả các cam kết trong EVFTA và UKVFTA không chỉ giúp doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế quan mà còn đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chí phát triển bền vững. Hiện EU và Vương quốc Anh là hai thị trường xuất khẩu quan trọng của nông, lâm, thủy sản Việt Nam. Riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang EU đạt khoảng 9,28 tỷ USD, chiếm khoảng 13% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, đứng thứ ba sau Trung Quốc và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng thị trường, các quy định về SPS, đặc biệt là giới hạn dư lượng tối đa (MRL), kiểm soát an toàn thực phẩm, kiểm dịch động, thực vật và các yêu cầu mới như Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), liên tục được cập nhật. Ông Ngô Hồng Phong cho rằng, yêu cầu của thị trường EU hiện không chỉ dừng ở các tiêu chuẩn SPS truyền thống mà đã mở rộng sang chuyển đổi số, minh bạch dữ liệu và phát triển bền vững. Nếu doanh nghiệp không chủ động theo dõi, cập nhật và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ trong toàn bộ chuỗi sản xuất, chế biến và xuất khẩu, nguy cơ mất thị trường hoặc gián đoạn xuất khẩu là rất lớn. Chủ động kiểm soát chất lượng dể giữ thị trường xuất khẩu Thông tin tại hội nghị, TS. Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, EU đã ban hành 74 thông báo SPS, tăng so với 65 thông báo cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, Vương quốc Anh chỉ ban hành 15 thông báo, giảm từ 22 thông báo của 6 tháng đầu năm 2025. Điểm đáng chú ý là EU tiếp tục xu hướng hạ mức dư lượng tối đa đối với nhiều hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời bổ sung thêm các đối tượng kiểm dịch thực vật và tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm. Ngược lại, Vương quốc Anh lại có xu hướng nới lỏng giới hạn dư lượng đối với một số hoạt chất. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa doanh nghiệp có thể áp dụng chung một tiêu chuẩn cho cả hai thị trường. "Doanh nghiệp không thể mặc định rằng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn EU thì sẽ đáp ứng tiêu chuẩn của Anh và ngược lại. Mỗi thị trường có quy định riêng, thậm chí ngay trong EU cũng bắt đầu xuất hiện sự khác biệt giữa các quốc gia thành viên", TS. Ngô Xuân Nam lưu ý. Thời gian gần đây, một số quốc gia như Pháp và Đức đã ban hành thêm các quy định riêng về kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật với yêu cầu cao hơn quy định chung của EU. Điều này khiến hàng hóa được phép nhập khẩu vào EU nhưng vẫn có thể gặp khó khăn khi lưu thông tại một số quốc gia thành viên. Đáng chú ý, EU đang lấy ý kiến dự thảo siết chặt mức dư lượng tối đa đối với nhiều hoạt chất sử dụng trên cà chua, xoài, trái cây có múi, dâu tây, chè và nhiều loại nông sản khác. Nhiều hoạt chất hiện vẫn được phép sử dụng tại Việt Nam nhưng EU dự kiến giảm mức dư lượng xuống chỉ còn 0,01-0,05 ppm, thấp hơn rất nhiều so với quy định hiện hành. "Doanh nghiệp vẫn còn thời gian chuẩn bị do hầu hết các quy định mới đều có lộ trình áp dụng sau khoảng 6 tháng kể từ khi công bố. Đây là khoảng thời gian quan trọng để điều chỉnh quy trình sản xuất, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu", ông Ngô Xuân Nam nhấn mạnh. Theo thống kê của Văn phòng SPS Việt Nam, hiện EU tiếp tục áp dụng biện pháp kiểm soát tăng cường đối với 4 mặt hàng nông sản của Việt Nam gồm sầu riêng, thanh long, ớt và đậu bắp. Trong đó, sầu riêng được kiểm tra tại cửa khẩu với tần suất 20%; thanh long 30%; còn ớt và đậu bắp bị kiểm tra 50% và phải kèm chứng thư phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. So với trước đây số mặt hàng bị kiểm soát đã giảm từ 7 xuống còn 4, cho thấy chất lượng nông sản Việt Nam đã có nhiều cải thiện. "Thanh long của Việt Nam nhiều tháng liên tiếp không phát sinh lô hàng vi phạm. Văn phòng SPS Việt Nam đã kiến nghị phía EU xem xét giảm tần suất kiểm tra đối với mặt hàng này", ông Nam cho biết. Bên cạnh dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, EU cũng liên tục cập nhật danh mục sinh vật gây hại thuộc diện kiểm dịch. Đáng chú ý, một đối tượng kiểm dịch mới đã được ghi nhận trên cây có múi tại Đồng bằng sông Cửu Long, đòi hỏi các địa phương tăng cường giám sát vùng trồng và chủ động kiểm soát. Đối với nhóm thực phẩm chế biến, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý các quy định về ghi nhãn, thành phần phối trộn, chất gây dị ứng, vật liệu bao bì tiếp xúc với thực phẩm cũng như nguyên liệu có nguồn gốc động vật. TS. Ngô Xuân Nam dẫn chứng, trong 6 tháng đầu năm 2026 đã có doanh nghiệp Việt Nam bị EU thu hồi và tiêu hủy sản phẩm do sử dụng trứng trong thực phẩm xuất khẩu, trong khi EU chưa mở cửa nhập khẩu trứng gia cầm từ Việt Nam. Một số doanh nghiệp khác cũng bị cảnh báo do bao bì không đáp ứng quy định an toàn thực phẩm. Các quy định SPS của EU hiện đã chuyển từ kiểm soát tại cửa khẩu sang quản lý toàn bộ chuỗi sản xuất theo phương pháp đánh giá rủi ro. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu, chủ động kiểm nghiệm trước khi xuất khẩu, tuân thủ nghiêm quy định về ghi nhãn, phụ gia thực phẩm và kiểm soát sinh vật gây hại. Ngoài ra, từ năm 2028, EU sẽ triển khai hệ thống điện tử mới trong xử lý hồ sơ nhập khẩu, yêu cầu toàn bộ chứng từ được số hóa. Văn phòng SPS Việt Nam sẽ tiếp tục cập nhật lộ trình, hướng dẫn doanh nghiệp chuẩn bị và thích ứng với quy định mới. "Doanh nghiệp cần chủ động thích ứng với những thay đổi của thị trường thay vì chờ quy định có hiệu lực. Đáp ứng tốt các yêu cầu SPS không chỉ giúp duy trì thị trường EU và Vương quốc Anh mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên các thị trường cao cấp", TS. Ngô Xuân Nam nhấn mạnh. Theo các chuyên gia trong ngành, EU liên tục siết chặt quy định SPS và cập nhật EUDR, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam chủ động kiểm soát chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn để giữ vững thị trường xuất khẩu.
Xem thêm

Xuất khẩu cá rô phi tăng mạnh, Brazil chiếm 50% kim ngạch

Lũy kế nửa đầu năm 2026, xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam đạt 69 triệu USD, tăng 67% so với cùng kỳ, trong đó, thị trường Brazil chiếm 50%.   Brazil chiếm nửa kim ngạch, Hoa Kỳ sụt giảm Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cá rô phi trong tháng 6/2026 đạt 7 triệu USD, giảm 32% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, nhờ đà tăng trưởng mạnh trong các tháng đầu năm, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi cả nước vẫn đạt 69 triệu USD, tăng 67% so với cùng kỳ năm trước. Trong các thị trường xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam, Brazil là thị trường nhập khẩu lớn nhất, với kim ngạch 6 tháng đầu năm 2026 đạt 35 triệu USD, tăng đột biến 28.767% so với cùng kỳ năm 2025 và chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Riêng trong tháng 6, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 1 triệu USD, tăng 871% so với cùng kỳ năm 2025. Đứng thứ hai là Hoa Kỳ với tổng kim ngạch 6 tháng đầu năm 2026 đạt 17 triệu USD, giảm 35% so với cùng kỳ. Riêng tháng 6, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi sang Hoa Kỳ đạt 3 triệu USD, giảm 61% so với cùng kỳ. Lũy kế nửa đầu năm 2026, xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam đạt 69 triệu USD, tăng 67% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài Brazil và Hoa Kỳ, một số thị trường quy mô nhỏ hơn tiếp tục ghi nhận tăng trưởng tích cực trong 6 tháng đầu năm 2026. Xuất khẩu cá rô phi sang Ả Rập Xê Út đạt 4 triệu USD, tăng 69%; Cộng hòa Dominica đạt 2,3 triệu USD, tăng 103% so với cùng kỳ năm trước; Bỉ ghi nhận kim ngạch 1,5 triệu USD, tăng 16%. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), mặc dù kết quả xuất khẩu 6 tháng đầu năm vẫn duy trì mức tăng trưởng cao, mức giảm 32% trong tháng 6 cho thấy đà tăng của ngành cá rô phi đang có dấu hiệu chững lại. Tại thị trường Hoa Kỳ, nhu cầu nhập khẩu vẫn chịu tác động từ lượng hàng tồn kho tích lũy trong các tháng trước. Bên cạnh đó, cá rô phi Việt Nam còn phải cạnh tranh với nguồn cung từ các quốc gia xuất khẩu lớn như Trung Quốc và Indonesia, tạo áp lực đáng kể về giá và thị phần. Rào cản kỹ thuật, thuế quan tại Brazil và giải pháp ứng phó Trong khi đó, Brazil tiếp tục là thị trường chủ lực nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ngoài các biện pháp kiểm soát kỹ thuật đối với thủy sản nhập khẩu, một số bang của Brazil đang áp dụng các chính sách thuế quan đối với mặt hàng cá rô phi. Đồng thời, dự luật cấm nhập khẩu cá rô phi vẫn đang được Quốc hội Brazil xem xét, khiến nhiều nhà nhập khẩu có xu hướng thận trọng hơn trong hoạt động giao dịch. Trước các rào cản thương mại từ Brazil, Việt Nam đã chủ động triển khai giải pháp kỹ thuật và ngoại giao nhằm bảo vệ ngành hàng cá rô phi. Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các bộ, ngành, Đại sứ quán và Thương vụ Việt Nam tại Brazil trao đổi với phía bạn, làm rõ cơ sở khoa học của các biện pháp kiểm soát, đồng thời khẳng định năng lực kiểm soát dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn sản phẩm. Việt Nam cũng đang hoàn thiện hồ sơ đánh giá rủi ro đối với virus TiLV, tăng cường đối thoại kỹ thuật và thúc đẩy hợp tác nông nghiệp, thủy sản giữa hai nước. Song song đó, doanh nghiệp được khuyến nghị nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và thị trường để giảm phụ thuộc vào Brazil. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam nhận định, xuất khẩu cá rô phi Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiếp tục đối mặt với không ít thách thức trong nửa cuối năm 2026. Các doanh nghiệp cần theo dõi sát diễn biến chính sách tại các thị trường trọng điểm, đặc biệt là Brazil và Hoa Kỳ, đồng thời chủ động đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro, duy trì tăng trưởng và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của thương mại quốc tế. Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam trong năm 2025 đạt 99 triệu USD, tăng 141% so với năm 2024. Trong năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi sang Hoa Kỳ đạt 53 triệu USD, chiếm hơn 53% tổng kim ngạch xuất khẩu cá rô phi. Tiếp đến là Brazil đạt 11 triệu USD, khu vực Trung Đông đạt gần 9 triệu USD.
Xem thêm

Xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng hơn 184% trong tháng 5

5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng 184,7%, đưa mức xuất siêu hàng hóa có xuất xứ nội địa vượt 5,6 tỷ USD.   Thương mại Việt Nam - Singapore tăng hơn 43% Theo Thương vụ Việt Nam tại Singapore dẫn số liệu của Cơ quan Quản lý doanh nghiệp Singapore, trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Singapore với thế giới đạt 729,3 tỷ SGD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu đạt 388,6 tỷ SGD, tăng 30,4%; nhập khẩu đạt 340,7 tỷ SGD, tăng 29,6%. Đáng chú ý, hoạt động thương mại của Singapore với các đối tác lớn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Đài Loan (Trung Quốc) tạm thời giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Singapore với kim ngạch trao đổi song phương đạt 127,4 tỷ SGD, tăng 90% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là Trung Quốc với 72 tỷ SGD tăng 13,9%, Malaysia đạt 67,9 tỷ SGD tăng 13,5%, Hoa Kỳ đạt 63,5 tỷ USD tăng 7,3% và Hồng Công (Trung Quốc) đạt 44,6 tỷ SGD tăng 29%. Trong bức tranh đó, Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí đối tác thương mại lớn thứ 10 của Singapore. Tổng kim ngạch thương mại song phương trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 23,3 tỷ SGD, tăng 43,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu của Singapore sang Việt Nam đạt 12,3 tỷ SGD, tăng 4,8%; nhập khẩu từ Việt Nam đạt 11 tỷ SGD, tăng tới 142,9%. Đáng chú ý, nếu chỉ tính hàng hóa có xuất xứ nội địa, Singapore đang nhập siêu từ Việt Nam hơn 7,3 tỷ SGD, tương đương khoảng 5,6 tỷ USD. Điều này cho thấy giá trị hàng hóa có xuất xứ thực sự từ Việt Nam xuất sang Singapore đang ở mức cao và tiếp tục gia tăng. Riêng trong tháng 5/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt gần 4,5 tỷ SGD, tăng 42,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Singapore sang Việt Nam đạt 2 tỷ SGD, giảm 11,8%, trong khi nhập khẩu từ Việt Nam đạt gần 2,5 tỷ SGD, tăng mạnh 184,7%. Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí đối tác thương mại lớn thứ 10 của Singapore. Ảnh minh hoạ Về cơ cấu hàng hóa, trong 5 tháng đầu năm 2026, hai nhóm hàng là máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) và nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) tiếp tục là hai nhóm hàng hóa xuất khẩu thứ 1 và 2 của Singapore tới Việt Nam. Cụ thể, nhóm HS 85 đạt 5,9 tỷ SGD, giảm nhẹ 2,8% so với cùng kỳ năm trước; nhóm HS 27 đạt 2,5 tỷ SGD, tăng 28,8%. Tuy cùng chiếm tỷ trọng lớn, nhưng bản chất của hai nhóm hàng này có sự khác biệt rõ rệt. Đối với nhóm HS 85, có tới 95,3% giá trị là hàng tạm nhập tái xuất từ nước thứ ba thông qua Singapore. Trong khi đó, nhóm HS 27 chủ yếu là hàng hóa được sản xuất trong nước tại Singapore, với tỷ trọng giá trị nội địa chiếm tới 90,1% trong tổng xuất khẩu sang Việt Nam. Ngoài ra, một số nhóm hàng khác cũng ghi nhận tăng trưởng đáng chú ý như nhóm lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí (HS 84) đạt 1,2 tỷ SGD, tăng 49,7%; nhóm tinh dầu, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh (HS 33) đạt 292,7 triệu SGD, tăng 14,4%. Ở chiều ngược lại, máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) tiếp tục là nhóm hàng Singapore nhập khẩu nhiều nhất từ Việt Nam với giá trị gần 5,9 tỷ SGD, tăng tới 161,8%, chiếm 53,6% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam. Đứng thứ hai là nhóm HS 84 với gần 3,7 tỷ SGD, tăng 268,7%. Một số nhóm hàng khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao như nhiên liệu và sản phẩm dầu mỏ (HS 27) tăng 244,9%; muối, lưu huỳnh, đất đá, thạch cao, vôi và xi măng (HS 25) tăng 55,3%; giấy và sản phẩm từ giấy (HS 48) tăng 58,1%; đồ chơi và dụng cụ thể thao (HS 95) tăng 87,9%. Theo báo cáo ngoại thương được Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) công bố ngày 17/6/2026, xuất khẩu nội địa phi dầu mỏ của Singapore tăng 38,4%, trong đó xuất khẩu điện tử tăng tới 94,8%, chủ yếu nhờ nhu cầu liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), mạch tích hợp, sản phẩm lưu trữ dữ liệu và máy tính cá nhân. Đây là nền tảng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của các nhóm hàng HS 85 và HS 84, đồng thời phản ánh việc Việt Nam ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng điện tử, linh kiện, máy móc và thiết bị công nghiệp trong khu vực. Đối với nhóm nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất (HS 27), tăng trưởng thương mại được hỗ trợ bởi nhu cầu đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của Việt Nam. Trong 4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu sản phẩm dầu mỏ tinh chế của Việt Nam tăng 28,7%, trong khi nhập khẩu LPG tăng 34,5%. Trong bối cảnh đó, Singapore tiếp tục phát huy vai trò là trung tâm giao dịch, lưu kho, lọc hóa dầu và phân phối nhiên liệu hàng đầu khu vực, qua đó góp phần thúc đẩy kim ngạch thương mại năng lượng giữa hai nước. Dư địa cho doanh nghiệp Việt Nam Theo ông Cao Xuân Thắng, Tham tán thương mại Việt Nam tại Singapore, báo cáo của Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) công bố ngày 25/5/2026 cho thấy, kinh tế Singapore trong năm 2026 được đánh giá là đang tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng khá tích cực, nhưng triển vọng chung trở nên thận trọng hơn do môi trường bên ngoài nhiều biến động. GDP Singapore trong quý I/2026 tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 5,7% của quý IV/2025. Trên cơ sở này, MTI tiếp tục duy trì dự báo tăng trưởng GDP cả năm trong khoảng 2-4%. Động lực tăng trưởng nổi bật đến từ các ngành có liên hệ chặt chẽ với chu kỳ công nghệ toàn cầu, đặc biệt là làn sóng phát triển trí tuệ nhân tạo (AI). Nhu cầu AI đã thúc đẩy mạnh hoạt động của các lĩnh vực điện tử, cơ khí chính xác, máy móc thiết bị và bán buôn. Trong quý I/2026, ngành chế tạo của Singapore tăng 7,9%; xây dựng tăng 11,8%; bán buôn tăng 11,7%; tài chính - bảo hiểm tăng 5,7%. Đây đều là những lĩnh vực tạo ra nhu cầu lớn đối với linh kiện điện tử, máy móc, vật liệu xây dựng, dịch vụ logistics và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng của Singapore cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Theo MTI, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông làm gia tăng nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng và nguyên liệu đầu vào, từ đó đẩy chi phí sản xuất và lạm phát tăng cao. Một số nhà máy lọc dầu và hóa dầu tại Singapore đã phải giảm công suất, trong khi nhiều doanh nghiệp hóa chất hạ nguồn phải tuyên bố bất khả kháng. Theo khảo sát của Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), lạm phát toàn phần năm 2026 được dự báo ở mức 2,3%, tăng đáng kể so với mức 1,5% trong dự báo trước đó; lạm phát lõi cũng tăng từ 1,5% lên 2%. Áp lực giá cả có thể làm giảm thu nhập thực tế của hộ gia đình và khiến người dân thận trọng hơn trong chi tiêu. Đây là lý do dự báo tiêu dùng tư nhân bị điều chỉnh giảm từ 3,5% xuống 3,2%, qua đó kéo dự báo tăng trưởng GDP chung mà MAS đưa ra xuống mức 3,5%. Dù vậy, thị trường lao động Singapore vẫn được đánh giá là tương đối ổn định. Theo ông Cao Xuân Thắng, tỷ lệ thất nghiệp cuối năm 2026 được dự báo ở mức 2,1%, không thay đổi so với khảo sát trước đó. Nhu cầu lao động vẫn duy trì tích cực trong các lĩnh vực công nghệ, tài chính, xây dựng, logistics và dịch vụ chuyên môn, dù sự phân hóa giữa các ngành có thể ảnh hưởng đến tốc độ tạo việc làm trong thời gian tới. Ông Cao Xuân Thắng, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Singapore. Ảnh: TTXVN Singapore vẫn được đánh giá là thị trường có sức mua cao, trung tâm thương mại - tài chính hàng đầu khu vực và là cửa ngõ quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế. Theo ông Cao Xuân Thắng, nhu cầu của thị trường Singapore thời gian tới có thể tiếp tục tích cực đối với các nhóm hàng công nghệ, linh kiện điện tử, máy móc thiết bị, sản phẩm phục vụ xây dựng, logistics, thực phẩm, đồ uống và hàng tiêu dùng thiết yếu. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng chất lượng, tiêu chuẩn, khả năng giao hàng ổn định và giá cả cạnh tranh, nhất là trong bối cảnh nhà nhập khẩu và người tiêu dùng Singapore có thể thận trọng hơn do lạm phát và chi phí sinh hoạt. Ông Cao Xuân Thắng cho biết, Thương vụ Việt Nam tại Singapore sẽ tiếp tục bám sát và cập nhật tình hình, cơ chế, chính sách của địa bàn nhằm kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp. Đồng thời, thương vụ sẽ tăng cường triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam kết nối giao thương, trưng bày hàng hóa, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm, qua đó nâng cao sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam tại thị trường Singapore. Thương vụ Việt Nam tại Singapore sẽ đẩy mạnh giới thiệu thị trường và các ngành hàng của Việt Nam tới các đối tác Singapore và khu vực, hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa vào thị trường này, đồng thời hỗ trợ các đoàn công tác từ Singapore sang Việt Nam tìm kiếm nguồn hàng, xúc tiến đầu tư trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Thương vụ cũng sẽ tiếp tục đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt Nam sang Singapore triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại và mở rộng cơ hội hợp tác kinh doanh.
Xem thêm
14/07/2026

Thống nhất rút ngắn thủ tục cấp mã số vùng trồng

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, tháo gỡ vướng mắc cho xuất khẩu sầu riêng và nông sản Việt.   Chiều 13/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị góp ý Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Ba nhóm vướng mắc cần tháo gỡ ngay Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi Trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, đây là nhiệm vụ “rất lớn, rất gấp” khi Bộ chỉ còn hai ngày để hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ theo chỉ đạo. Song song với việc sửa đổi toàn diện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, Chính phủ thống nhất ban hành một nghị quyết để xử lý ngay các vướng mắc cấp bách trong cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Việc ban hành nghị quyết là cần thiết trong bối cảnh sầu riêng Tây Nguyên chỉ còn khoảng 10 ngày nữa bước vào chính vụ, trong khi nhiều địa phương đang gặp khó khăn khi triển khai các quy định hiện hành. Hội thảo góp ý Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, mục tiêu của nghị quyết là giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Bộ xác định có ba nhóm vướng mắc lớn cần giải quyết. Thứ nhất là quy định diện tích tối thiểu 10 ha đối với vùng trồng. Nhiều địa phương, đặc biệt ở Tây Nguyên, có số lượng lớn vùng trồng quy mô nhỏ nên không đáp ứng điều kiện này. Dự thảo mới định hướng cấp mã số trên cơ sở đề xuất của cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ, hợp tác xã, tổ chức hoặc doanh nghiệp mà không đặt nặng yếu tố diện tích. Thứ hai là vấn đề cây trồng xen. Quá trình triển khai cho thấy nhiều địa phương chưa thống nhất cách hiểu quy định về trồng xen trong Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, dẫn tới lúng túng khi cấp mã số vùng trồng. Thứ ba là quy trình cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Quan điểm của Bộ là đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý nhưng vẫn bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. “Việc cấp mã số vùng trồng nhanh, gọn và chính xác mới chỉ là điều kiện cần để phục vụ xuất khẩu sầu riêng sắp tới. Để xuất khẩu thông suốt còn nhiều việc khác Bộ và các địa phương phải tiếp tục thực hiện”, Thứ trưởng nhấn mạnh. Tại hội nghị, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt trình bày hai phương án của dự thảo nghị quyết. Phương án 1 gắn mã số vùng trồng với mã định danh thửa đất trong cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Theo hướng này, nếu thửa đất đã có mã định danh thì người dân khai báo trực tiếp; nếu chưa có thì phối hợp với UBND cấp xã để tạo lập mã định danh. Phương án 2 tập trung xử lý ngay các vướng mắc cấp bách về diện tích, cây trồng xen và thủ tục hành chính, còn việc tích hợp dữ liệu đất đai sẽ thực hiện sau khi cơ sở dữ liệu quốc gia hoàn thiện. Đại diện cơ quan soạn thảo cho biết, theo phương án 2, hồ sơ đăng ký sẽ được rút gọn tối đa, kết hợp mẫu đơn và bản thuyết minh thành một biểu mẫu thống nhất. Sau khi nộp trên Cổng dịch vụ công quốc gia, trong vòng 3 ngày sẽ được cấp mã số. Trước khi gửi danh sách sang các thị trường yêu cầu đăng ký xuất khẩu, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh sẽ thực hiện hậu kiểm. Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt phát biểu tại Hội nghị. Góp ý tại hội nghị, nhiều địa phương cho rằng cần dung hòa giữa yêu cầu quản lý và tính khả thi. Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk, nghiêng về phương án gắn mã số với mã định danh thửa đất. Theo bà Thủy, cách làm này sẽ giúp quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương và giảm rủi ro pháp lý cho cán bộ chuyên môn. Đắk Lắk hiện quản lý ba nhóm mã số vùng trồng gồm đã được Trung Quốc chấp thuận, đang chờ phê duyệt và đang triển khai theo Nghị định số 38/2026/NĐ-CP. Tỉnh đặt mục tiêu số hóa toàn bộ khoảng 41.000 ha sầu riêng để phục vụ quản lý và kết nối dữ liệu. Tuy nhiên, địa phương cũng cho biết còn nhiều diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc liên quan đến nông, lâm trường nên đề xuất UBND cấp xã xác nhận diện tích thực tế đối với các trường hợp này. Trong khi đó, ông Vũ Đình Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng, cơ bản lựa chọn phương án 2 theo hướng đơn giản hóa thủ tục nhưng đề nghị giao cấp xã thực hiện tiền kiểm mã số vùng trồng và giữ quy định xác nhận đối với trường hợp chưa có mã định danh thửa đất. Bà Nguyễn Thị Tố Trân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai, đồng tình với việc bỏ quy định diện tích tối thiểu nhưng cho rằng cần làm rõ trách nhiệm của UBND cấp xã trong xác nhận nguồn gốc và tình trạng sử dụng đất để tránh dồn toàn bộ rủi ro cho cơ quan chuyên môn cấp tỉnh. Đại diện Đồng Tháp cũng thống nhất với phương án 2 nhưng đề nghị giao cấp xã thực hiện tiền kiểm và hậu kiểm mã số vùng trồng, còn mã số cơ sở đóng gói do cấp tỉnh phụ trách. Hướng tới quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc Kết luận hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, Bộ cơ bản thống nhất lựa chọn phương án 2 nhưng tiếp thu một số nội dung của phương án 1. Theo đó, mã số vùng trồng được cấp trên cơ sở vị trí thửa đất. Trường hợp thửa đất đã có trong cơ sở dữ liệu đất đai thì sử dụng thông tin sẵn có; trường hợp chưa có thì UBND cấp xã phải xác nhận vị trí và diện tích thực tế. “Quy định này vừa bảo đảm an toàn pháp lý cho địa phương trong quá trình cấp mã, vừa tạo thuận lợi cho công tác quản lý sau này”, Thứ trưởng nói. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu kết luận tại Hội nghị. Bộ cũng thống nhất bổ sung biên bản tiền kiểm, hậu kiểm và hướng dẫn quy trình kiểm tra trong phụ lục của dự thảo. Đối với mã số vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, hồ sơ hợp lệ sẽ được cấp trong vòng 2-3 ngày làm việc và cơ quan quản lý thực hiện hậu kiểm sau đó. Đối với trường hợp đăng ký xuất khẩu, cơ quan chuyên môn hoặc cấp xã được giao nhiệm vụ sẽ thực hiện tiền kiểm trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kiểm tra đầy đủ điều kiện theo yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu trước khi gửi danh sách mã số ra nước ngoài. "Thời hạn 10 ngày là cần thiết để bảo đảm kiểm tra kỹ lưỡng và giữ uy tín cho nông sản Việt Nam. Chỉ cần một vài mã số vi phạm bị nước nhập khẩu trả về cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả ngành hàng”, Thứ trưởng lưu ý. Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, đổi mới công tác cấp mã số lần này không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn hướng tới mục tiêu quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Đối với thị trường Trung Quốc, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan làm việc với phía Trung Quốc để đẩy nhanh việc công nhận các mã số đã gửi sang, đồng thời nghiên cứu điều chỉnh nghị định thư theo hướng tăng tính chủ động cho Việt Nam. Song song với đó, Bộ sẽ kiểm soát chặt các cơ sở đóng gói và vùng trồng có nguy cơ cao nhằm bảo đảm yêu cầu về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm. Thứ trưởng cũng đề nghị các Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu UBND tỉnh triển khai một “chiến dịch dữ liệu mã số vùng trồng” để nhanh chóng số hóa và chuẩn hóa thông tin vùng trồng trên toàn địa bàn. Bộ đồng thời khuyến khích các hộ dân liên kết thành tổ hợp tác, hợp tác xã để hình thành vùng trồng quy mô lớn, giảm số lượng mã số phải cấp và tạo điều kiện xây dựng thương hiệu nông sản địa phương. “Đây là cơ hội để các địa phương thúc đẩy liên kết sản xuất và xây dựng thương hiệu nông sản của mình, thay vì mỗi hộ sản xuất nhỏ lẻ với một mã số riêng”, Thứ trưởng nhấn mạnh. Theo kế hoạch, từ ngày 15/7 hệ thống cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ được triển khai theo hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tổ chức tập huấn cho các địa phương ngay trong chiều 14/7 và yêu cầu cán bộ trực tiếp thực hiện nghiệp vụ phải tham gia đầy đủ.
Xem thêm

Tập đoàn Y Dược Sâm Ngọc Linh Việt Nam - sứ mệnh “Mang Sâm Ngọc Linh đến với mọi nhà”

24/06/2026
CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN Y DƯỢC SÂM NGỌC LINH VIỆT NAM – TIÊN PHONG ĐƯA QUỐC BẢO VIỆT NAM RA THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ Giới thiệu doanh nghiệp Công ty Cổ phần Tập đoàn Y Dược Sâm Ngọc Linh Việt Nam (VKD Group) là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển, bảo tồn và thương mại hóa các sản phẩm từ Sâm Ngọc Linh – dược liệu được mệnh danh là “Quốc bảo Việt Nam”. Với hành trình gần 10 năm hình thành và phát triển, VKD Group không ngừng đầu tư vào vùng nguyên liệu, nghiên cứu khoa học, công nghệ chế biến và hệ thống phân phối nhằm xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ vùng trồng đến sản phẩm cuối cùng, góp phần nâng tầm giá trị dược liệu Việt Nam trên thị trường quốc tế. Sứ mệnh và tầm nhìn VKD Group được thành lập với sứ mệnh bảo tồn nguồn gen quý của Sâm Ngọc Linh, phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe chất lượng cao từ dược liệu Việt Nam và đưa Sâm Ngọc Linh trở thành thương hiệu quốc tế có giá trị bền vững. Doanh nghiệp hướng tới xây dựng hệ sinh thái y dược hiện đại dựa trên nền tảng kết hợp giữa tinh hoa dược liệu truyền thống và công nghệ sản xuất tiên tiến, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và quốc tế. Hệ thống vùng nguyên liệu Sâm Ngọc Linh Một trong những thế mạnh nổi bật của VKD Group là hệ thống vùng nguyên liệu được liên kết và phát triển tại các khu vực sinh trưởng phù hợp với Sâm Ngọc Linh. Doanh nghiệp hiện phát triển và liên kết các vùng trồng tại: Tu Mơ Rông, Kon Tum; Nam Trà My, Quảng Nam; Puxailaileng, Kỳ Sơn, Nghệ An. Việc đầu tư trực tiếp vào vùng nguyên liệu giúp doanh nghiệp chủ động nguồn cung, đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng từ giai đoạn nuôi trồng đến thu hoạch. Nghiên cứu và phát triển sản phẩm VKD Group tập trung nghiên cứu và ứng dụng các hoạt chất quý có trong Sâm Ngọc Linh nhằm phát triển đa dạng các dòng sản phẩm phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe hiện đại. Thông qua hoạt động nghiên cứu và hợp tác với các chuyên gia trong lĩnh vực y dược, doanh nghiệp từng bước hoàn thiện quy trình chiết xuất, bảo tồn hoạt chất và nâng cao giá trị sử dụng của Sâm Ngọc Linh trong nhiều nhóm sản phẩm khác nhau. Danh mục sản phẩm của doanh nghiệp bao gồm: Sâm Ngọc Linh tươi; Sâm Ngọc Linh ngâm mật ong; Trà Sâm Ngọc Linh; Nước Sâm Ngọc Linh; Cao Sâm Ngọc Linh; Thực phẩm bảo vệ sức khỏe từ Sâm Ngọc Linh; Các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và quà tặng cao cấp. Năng lực sản xuất và quản lý chất lượng VKD Group định hướng phát triển theo mô hình khép kín từ vùng nguyên liệu đến thành phẩm, chú trọng đầu tư công nghệ sản xuất hiện đại và hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt. Doanh nghiệp liên tục đầu tư vào hoạt động nghiên cứu, sản xuất và tiêu chuẩn hóa quy trình nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn định, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế. Trên hệ thống truyền thông của doanh nghiệp, nhiều sản phẩm được phát triển theo định hướng chuẩn hóa chất lượng và áp dụng các tiêu chuẩn quản lý tiên tiến. Định hướng xuất khẩu và hợp tác quốc tế Với mục tiêu đưa “Quốc bảo Việt Nam” vươn ra thế giới, VKD Group không ngừng mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế, tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, triển lãm chuyên ngành và xây dựng mạng lưới đối tác tại nhiều quốc gia. Doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến thị trường Trung Quốc – một trong những thị trường có truyền thống sử dụng nhân sâm và dược liệu lâu đời, đồng thời sở hữu nhu cầu lớn đối với các sản phẩm chăm sóc sức khỏe chất lượng cao có nguồn gốc tự nhiên. VKD Group mong muốn hợp tác với: Nhà nhập khẩu dược liệu; Nhà phân phối thực phẩm sức khỏe; Doanh nghiệp thương mại quốc tế; Nền tảng thương mại điện tử; Hệ thống bán lẻ và chuỗi cửa hàng chăm sóc sức khỏe; Đối tác OEM/ODM và phát triển thương hiệu. Cam kết hợp tác Với nền tảng vùng nguyên liệu, năng lực nghiên cứu phát triển và định hướng đầu tư dài hạn, Công ty Cổ phần Tập đoàn Y Dược Sâm Ngọc Linh Việt Nam cam kết mang đến cho đối tác những sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng ổn định và giá trị khác biệt từ dược liệu quý của Việt Nam. VKD Group mong muốn trở thành cầu nối đưa Sâm Ngọc Linh – Quốc bảo của Việt Nam – tiếp cận rộng rãi hơn với người tiêu dùng quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của dược liệu Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Đọc thêm0

BECHAMP – “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”

29/09/2025
BECHAMP – Thương hiệu cà phê hữu cơ tiên phong từ Đắk Nông Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng lan rộng, nhiều thương hiệu nông sản Việt Nam đã và đang chuyển mình để đáp ứng nhu cầu thị trường. Nổi bật trong số đó là BECHAMP – Hợp tác xã Nông sản hữu cơ tại Đắk Nông, đơn vị tiên phong trong việc áp dụng nguyên lý khoa học vào sản xuất nông nghiệp bền vững. Triết lý từ nền tảng khoa học Tên gọi BECHAMP được lấy cảm hứng từ nhà khoa học Antoine Bechamp – người đề cao sự cân bằng giữa các vi sinh vật trong tự nhiên. Triết lý này đã trở thành kim chỉ nam cho thương hiệu: tạo môi trường canh tác thuận lợi để vi sinh vật có lợi phát triển, từ đó giúp cây trồng khỏe mạnh, giảm phụ thuộc vào hóa chất và mang lại sản phẩm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Hướng tới nông nghiệp sạch và bền vững BECHAMP ứng dụng các chế phẩm sinh học từ nguyên liệu tự nhiên như cá, đậu tương, thân chuối, xác bã thực vật… nhằm tái tạo độ phì nhiêu cho đất và nâng cao sức đề kháng của cây trồng. Quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ từ khâu canh tác, chăm sóc đến chế biến, đảm bảo tiêu chí sạch, hữu cơ và thân thiện với môi trường. Không chỉ dừng ở đó, BECHAMP còn tích cực hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang canh tác hữu cơ, tư vấn miễn phí kỹ thuật sản xuất và xây dựng chuỗi liên kết bền vững. Đây cũng là một trong những điểm nhấn giúp thương hiệu khẳng định uy tín, đồng hành cùng cộng đồng. Sản phẩm đặc trưng vùng đất đỏ bazan Đắk Nông được biết đến là vùng đất đỏ bazan màu mỡ, nơi tạo nên hương vị đặc biệt cho cà phê. BECHAMP đã khai thác lợi thế này để cho ra đời nhiều dòng sản phẩm chất lượng cao như: beCHAMP Coffee Gu Mạnh, beCHAMP Coffee Honey Nắng Vàng, beCHAMP Coffee Natural Nắng Vàng… Các sản phẩm không chỉ giữ trọn hương vị nguyên bản của cà phê Việt mà còn đảm bảo an toàn, giàu giá trị dinh dưỡng. Thương hiệu uy tín – Hướng đến tương lai xanh Với phương châm “Sức khỏe vàng – Cuộc sống xanh”, BECHAMP đang dần trở thành thương hiệu cà phê hữu cơ uy tín, góp phần nâng cao giá trị nông sản Việt trên thị trường trong và ngoài nước. Sự minh bạch trong quy trình sản xuất, cam kết chất lượng cùng định hướng phát triển bền vững đã giúp BECHAMP tạo dựng niềm tin với khách hàng và đối tác. Trong tương lai, BECHAMP không chỉ dừng lại ở thị trường cà phê hữu cơ mà còn hướng tới mở rộng mô hình nông nghiệp xanh, lan tỏa giá trị bền vững đến nhiều lĩnh vực khác, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại và thân thiện với môi trường.
Đọc thêm0

VIHAMARK - Chuẩn vị tự nhiên – Tự hào thương hiệu Việt

02/08/2025
Vihamark – Khẳng định vị thế thương hiệu nước giải khát Việt từ nguồn nguyên liệu tự nhiên Trong hành trình hội nhập và phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm - đồ uống Việt Nam, Công ty Cổ phần Tập đoàn Vihamark đang dần định hình vị thế là một trong những doanh nghiệp tiên phong sản xuất nước giải khát thiên nhiên chất lượng cao, ứng dụng công nghệ hiện đại và khai thác tối đa giá trị từ nông sản bản địa. Với triết lý “Tự nhiên là chuẩn mực”, Vihamark không ngừng đổi mới để mang đến những sản phẩm tốt cho sức khỏe, gắn kết giữa con người – thiên nhiên – công nghệ một cách hài hòa và bền vững. Hành trình kiến tạo thương hiệu từ nền tảng giá trị thật Thành lập từ năm 2016, Vihamark khởi nguồn tại Khu công nghiệp Đồng Văn II (Hà Nam) với khát vọng trở thành thương hiệu giải khát Việt Nam tiêu biểu, sánh ngang cùng các thương hiệu khu vực. Không đi theo lối mòn của các dòng nước uống đóng chai đại trà, Vihamark lựa chọn hướng đi khác biệt: tập trung vào sản phẩm nước giải khát từ nguyên liệu tự nhiên, không chất bảo quản, hàm lượng dinh dưỡng cao và vị ngon thuần khiết. Trải qua gần một thập kỷ phát triển, Vihamark đã mở rộng hệ sinh thái sản phẩm với gần 30 dòng nước giải khát, từ nước trái cây, nước thảo dược đến nước yến, nha đam, dừa, mãng cầu, măng cụt... Tất cả đều được nghiên cứu và phát triển dựa trên tinh thần “thức uống lành, chuẩn vị tự nhiên”, đáp ứng thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng từ thành thị đến nông thôn, từ nội địa đến xuất khẩu. Công nghệ – Nhân sự – Quản trị: Ba trụ cột kiến tạo chất lượng Chất lượng sản phẩm của Vihamark là kết tinh của ba yếu tố: công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực tận tâm, và hệ thống quản lý khoa học. Tại nhà máy Vihamark đặt tại Hà Nam, công ty đầu tư đồng bộ dây chuyền sản xuất nhập khẩu từ Nhật Bản, áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 22000:2018. Mỗi công đoạn – từ chọn lọc nguyên liệu, xử lý, chiết rót, đóng gói – đều được kiểm soát nghiêm ngặt, đảm bảo không chỉ vị ngon mà còn sự an toàn tối đa cho người tiêu dùng. Đội ngũ nhân sự của Vihamark, với hơn 100 cán bộ công nhân viên, là những người trẻ năng động, yêu nghề và luôn đề cao tinh thần sáng tạo – chính trực. Văn hóa doanh nghiệp được xây dựng dựa trên nền tảng đề cao giá trị con người, khuyến khích học hỏi và gắn bó lâu dài, từ đó thúc đẩy năng suất và chất lượng lao động. Đa dạng sản phẩm – Định hình thị phần Nhận thức rõ vai trò của sự khác biệt trong xây dựng thương hiệu, Vihamark liên tục nghiên cứu và ra mắt các dòng sản phẩm mới, với điểm nhấn là các sản phẩm chứa thạch dừa, trái cây miền nhiệt đới, và nước yến chưng bổ dưỡng. Những sản phẩm như nước mãng cầu xiêm thạch dừa, nước măng cụt, nước nha đam mật ong, yến sào collagen, nước yến đường ăn kiêng… không chỉ gây ấn tượng bởi hương vị mà còn tạo dựng niềm tin về giá trị sức khỏe và sự tiện lợi. Đặc biệt, Vihamark xây dựng hệ thống thương hiệu mang tính phân khúc như: FPI 100 – Nước ép trái cây tươi nguyên chất Quà tặng từ thiên nhiên – Dòng sản phẩm quà biếu cao cấp Năng lượng bất tận – Dòng nước uống bổ sung năng lượng Chuẩn vị tự nhiên – Dòng nước giải khát truyền thống kết hợp hiện đại Thị trường rộng mở – Tầm nhìn toàn cầu Từ một nhà sản xuất nội địa, Vihamark đã phát triển hệ thống phân phối rộng khắp ba miền Việt Nam, với hàng ngàn điểm bán lẻ và đối tác chiến lược. Không dừng lại ở đó, sản phẩm của công ty đã có mặt tại nhiều thị trường quốc tế, phục vụ cộng đồng người Việt và khách hàng nước ngoài tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Định hướng đến năm 2030, Vihamark đặt mục tiêu trở thành top 5 thương hiệu nước giải khát tự nhiên được yêu thích nhất tại Đông Nam Á, đồng thời gia tăng sản lượng xuất khẩu gấp 3 lần hiện tại. Để hiện thực hóa điều đó, công ty đang tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, phát triển thêm nhà máy mới tại các tỉnh trọng điểm nông nghiệp, đồng thời số hóa hệ thống quản trị và bán hàng. Cam kết phát triển bền vững Không chỉ kinh doanh hiệu quả, Vihamark còn chú trọng đến trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Từ việc thu mua nguyên liệu từ nông dân với giá ổn định, tham gia các chương trình hỗ trợ phát triển vùng trồng bền vững, cho đến các hoạt động thiện nguyện, tài trợ học bổng, bảo vệ môi trường – tất cả thể hiện triết lý kinh doanh nhân văn mà công ty theo đuổi. Vihamark không chỉ là một thương hiệu nước giải khát – mà là biểu tượng cho một triết lý sống khỏe, sống xanh, sống lành mạnh cùng thiên nhiên. Với nền tảng vững chắc và chiến lược rõ ràng, Tập đoàn Vihamark đang sẵn sàng cho hành trình bứt phá tiếp theo, đưa thương hiệu Việt vươn xa trên thị trường quốc tế.
Đọc thêm0

Yến sào FanZa – Khởi nguồn sức sống, kết nối niềm tin

09/07/2025
Yến sào FanZa là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm yến sào chất lượng cao tại Việt Nam. Với sứ mệnh “Mang tinh hoa yến Việt đến với mọi gia đình trên toàn thế giới”, FanZa không ngừng đầu tư vào công nghệ hiện đại, quy trình sản xuất khép kín và đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm nhằm đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng tối ưu, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. 🌿 Sản phẩm đa dạng, chất lượng vượt trội FanZa cung cấp đa dạng các dòng sản phẩm yến sào như: yến thô, yến tinh chế, yến chưng sẵn, yến chưng đường phèn, yến sào kết hợp thảo dược… Tất cả sản phẩm đều được chế biến từ nguồn yến tự nhiên khai thác tại các vùng yến nổi tiếng của Việt Nam, đảm bảo giữ trọn hàm lượng dinh dưỡng quý giá. 🏭 Nhà máy đạt tiêu chuẩn quốc tế Nhà máy FanZa được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại, đạt chứng nhận HACCP, ISO 22000, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm ở mức cao nhất. Mọi khâu từ tuyển chọn nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến đóng gói đều được kiểm soát nghiêm ngặt bằng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến. 🚀 Tầm nhìn - Sứ mệnh - Giá trị cốt lõi FanZa đặt mục tiêu trở thành thương hiệu yến sào hàng đầu khu vực Đông Nam Á, góp phần nâng tầm giá trị yến sào Việt Nam trên thị trường quốc tế. Chúng tôi cam kết mang đến sản phẩm yến sào nguyên chất, an toàn, giàu dinh dưỡng cùng dịch vụ chuyên nghiệp, tận tâm. FanZa luôn đề cao các giá trị: Chất lượng – Uy tín – Sáng tạo – Phát triển bền vững. 🤝 Đối tác tin cậy FanZa đã và đang trở thành đối tác tin cậy của nhiều hệ thống phân phối, siêu thị, doanh nghiệp xuất khẩu tại các thị trường khó tính như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, và EU.
Đọc thêm0
Đọc thêm
popup

Số lượng:

Tổng tiền: